Qui tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ UCP 600


Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ (tiếng Anh: The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits (viết tắt là UCP) là một bộ các quy định về việc ban hành và sử dụng thư tín dụng (hay L/C). UCP được các ngân hàng và các bên tham gia thương mại áp dụng ở trên 175 quốc gia. Khoảng 11-15% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm.

Về mặt lịch sử, các bên tham gia thương mại, đặc biệt là các ngân hàng, đã phát triển các kỹ thuật nghiệp vụ và các phương pháp sử dụng thư tín dụng trong tài chính-thương mại quốc tế. Các thông lệ này đã được Phòng thương mại quốc tế (ICC) tiêu chuẩn hóa thông qua việc xuất bản UCP năm 1933 và tiếp theo đó là cập nhật nó qua các năm. ICC đã phát triển và đưa vào khuôn khổ UCP bằng các bản sửa đổi thường xuyên, bản trước đây là UCP500. Kết quả là nỗ lực quốc tế thành công nhất trong việc thống nhất các quy định từ trước đến nay, khi UCP đã có hiệu lực thực tế trên toàn thế giới. Bản sửa đổi mới nhất đã được Ủy ban Ngân hàng của ICC phê chuẩn tại cuộc họp ở Paris vào ngày 25 tháng 10 năm 2006. Bản sửa đổi mới này, gọi là UCP600, đã chính thức bắt đầu hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007.

Xin vui lòng click UCP 600 để xem bản chi tiết

Một số điểm đáng lưu ý trong UCP 60

1. Những quy định tiến bộ trong UCP 600:

UCP 600 có những ưu điểm nổi bật sau đây:

1.1. Về hình thức

UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500) và được sắp xếp một cách khoa học, dễ tra cứu, trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500.

Xét Điều 2 UCP 600:

“Ngân hàng thông báo là ngân hàng tiến hành thông báo tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành.

Người yêu cầu là bên mà theo yêu cầu của bên đó, một tín dụng được phát hành.

Ngày làm việc ngân hàng là ngày mà vào ngày đó ngân hàng thường xuyên mở cửa tại nơi mà ở nơi đó một hoạt động có liên quan đến các Quy tắc này được thực hiện.

Người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của  bên đó, một tín dụng được phát hành.

Xuất trình phù hợp nghĩa là việc xuất trình chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của các Quy tắc này và với tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế.

Xác nhận là một cam kết chắc chắn của ngân hàng xác nhận thêm vào sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán hoặc thương lượng thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Ngân hàng xác nhận là ngân hàng theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành thêm sự xác nhận của mình đối với một tín dụng.

Tín dụng là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Thanh toán có nghĩa là

a.    trả ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay.

b.    Cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau.

c.     Chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.

Ngân hàng phát hành là ngân hàng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc nhân danh chính mình phát hành một tín dụng.

Thương lượng thanh toán là việc ngân hàng chỉ định mua các hối phiếu (ký phát đòi tiền ngân hàng khác, trừ ngân hàng chỉ định) và/hoặc các chứng từ khi xuất trình phù hợp bằng cách trả tiền trước hoặc ứng tiền trước cho người thụ hưởng vào hoặc trước ngày làm việc ngân hàng mà vào ngày đó ngân hàng chỉ định được hoàn trả tiền…”

è Nhận xét: rõ ràng ta thấy các định nghĩa và giải thích thuật ngữ rõ ràng này sẽ giúp cho các bên tham gia trong quy trình thanh toán tín dụng chứng từ tránh khỏi tranh chấp không đáng có.

Đặc biệt về  thương lượng thanh toán, trong UCP 500, thuật ngữ này được gọi là “ discount” chứ không phải “ negotiation” như ở bản 600 này. Điều này có ý nghĩa rất lớn  vì “Discount” có nghĩa là định giá và thanh toán  chỉ cho hối phiếu nhưng trong phương thức thanh toán TDCT, giao dịch giữa các bên là giao dịch trên cơ sở chứng từ mà rất nhiều bộ chứng từ khi xuất trình không đòi hỏi phải có hối phiếu. Trong những trường hợp này thuật ngữ “negotiation” thể hiện rõ bản chất của quá trình này hơn. Chiết khấu phải được hiểu là thương lượng thanh toán bằng thế chấp bộ chứng từ.

Tiếp theo là khoản quy định về thư tín dụng, so với UCP 500, UCP 600 đã quy định rõ ràng tín dụng là không thể hủy ngang. Quy định này thực sự rất có ý nghĩa đối với bên xuất khẩu, họ có thể giao dịch một cách an toàn hơn và không sợ bị bên nhập khẩu từ chối giao dịch giữa chừng. Bên cạnh đó, trong phương thức thanh toán TDCT, tín dụng phải là một tín dụng không thể hủy ngang thì mới có thể đảm bảo cho các ý nghĩa của phương thức này. Đó là sự đảm bảo thanh toán cho các bên.

Ngoài điều 2, điều 3 của UCP cũng giải thích rất kỹ các thuật ngữ được sử dụng trong thư tín dụng, làm cho các bên hiểu rõ ràng và giao dịch trôi chảy hơn.

 1.2. Về thời gian làm việc ngân hàng

UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days). ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ. Cụ thể như sau:

UCP 600 Điều 14(b) và 16 (d)

Ngân hàng được chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, và ngân hàng phát hành sẽ có tối đa mỗi ngân hàng là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình chứng từ để xác định chứng từ xuất trình có hợp lệ hay không.

Thông báo (từ chối bộ chứng từ) theo yêu cầu ở điều 16(c) phải được gửi bằng viễn thông, hoặc, nếu không thể được, thì bằng các phương tiện nhanh chóng khác không muộn hơn ngày làm việc thứ 5 của ngân hàng tiếp theo ngày xuất trình chứng từ.

è Nhận xét: việc quy định rõ ràng thời hạn để ngân hàng làm việc ra quyết định từ chối hay không từ chối bộ chứng từ như trên là rất cần thiết. Khoảng thờp gian này cũng rất hợp lý để các ngân hàng xem xét chứng từ và đưa ra quyết định. Ngoài ra, so với 7 ngày trong UCP 500, 5 ngày trong UCP 600 có thể giúp đẩy nhanh quá trình xử lý chứng từ qua đó thúc đẩy nhanh hoạt động thương mại thông qua hình thức thư tín dụng. Quan trọng hơn nữa, quy định này sẽ chấm dứt những tranh chấp trong việc hiểu và vận dụng quy đinh thời gian hợp lý trong việc xử lý chứng từ của ngân hàng mà trên thực tế đã phát sinh.

1.3. Quy định về địa chỉ của Người yêu cầu và Người thụ hưởng

UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong L/C:

UCP 600 Điều 14(j)

Khi địa chỉ của người hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng thể hiện trên bất kỳ chứng từ nào thì không nhất thiết phải giống như địa chỉ trong thư tín dụng hoặc trong bất kỳ một chứng từ nào khác, tuy nhiên phải trong cùng nước với địa chỉ tương ứng quy định trong thư tín dụng. Các chi tiết liên lạc (số fax, điện thoại, email,…) là một phần địa chỉ của người hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng sẽ bị bỏ qua. Tuy nhiên, khi địa chỉ và các chi tiết liên lạc của người yêu cầu mở thư tín dụng xuất hiện như là một phần chi tiết của người nhận hàng hay bên được thông báo trong chứng từ vận tải theo điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 hoặc 25 thì phải giống như trong thư tín dụng.

è Nhận xét: việc quy định địa chỉ của người thụ hưởng và người yêu cầu thể hiện trong các chứng từ không nhất thiết phải giống như đã nêu trong thư tín dụng hay các chứng từ khác là rất tiến bộ và hợp lý. Trên thực tế đã có nhiều trường hợp ngân hàng từ chối bộ chứng từ vì người thụ hưởng và người yêu cầu trong bộ chứng từ xuất trình không giống hoàn toàn với NTH NYC trong thư tín dụng. Việc quy định như trên sẽ giúp giảm thiểu các bộ chứng từ bị từ chối một cách không hợp lý và làm cho quá trình thực hiện L/C được linh hoạt hơn.

1.4 . Quy định về việc từ chối bộ hồ sơ:

UCP 600 Điều 16(c)

Khi ngân hàng được chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành quyết định từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu bộ chứng từ xuất trình, thì phải gửi một thông báo duy nhất cho người xuất trình.

Thông báo phải nêu rõ:

i. Ngân hàng từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu; và

ii. Mỗi điểm bất hợp lệ theo đó ngân hàng từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu; và

iii. a) Ngân hàng đang giữ chứng từ chờ các chỉ dẫn tiếp theo từ người xuất trình; hoặc

b) Ngân hàng phát hành đang giữ bộ chứng từ cho tới khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của người yêu cầu mở thư tín dụng và đồng ý với việc chấp nhận đó; hoặc nhận các chỉ dẫn tiếp theo từ người xuất trình trước khi đồng ý việc chấp nhận bộ chứng từ của người mở yêu cầu thư tín dụng; hoặc

c) Ngân hàng đang gửi trả lại bộ chứng từ; hoặc

d) Ngân hàng đang hành động theo các chỉ dẫn từ người xuất trình chứng từ đã nhận từ trước.

è Nhận xét: Như vậy theo quy định mới này của UCP 600, ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định có thể lựa chọn hình thức định đoạt cho chứng từ một cách linh hoạt và thích hợp để thông báo cho người xuất trình. Chẳng hạn trong trường hợp bộ chứng từ xuất trình có sai sót, nhưng người nhập khẩu quyết định bỏ qua lỗi để nhanh chóng lấy được bộ chứng từ đi nhận hàng chỉ cần thông báo bỏ qua sai biệt và chấp nhận sai biệt cho phía ngân hàng là có thể rút ngắn thời gian lấy chứng từ đi nhận hàng, giảm thiểu các thiệt hại về phí lưu kho, nhanh chóng giải phóng hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời kì kinh tế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thời gian là yếu tố quyết định.

LỜI MỞ ĐẦU

Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng, các nước đang xích lại gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế. Vượt qua không gian và thời gian, những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong mắt xích cuối cùng của quá trình trao đổi, thanh toán quốc tế. Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải phát triển các dịch vụ kinh tế đối ngoại một cách tương ứng, trong đó không thể không kể đến hoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phương thức thanh toán đa dạng và phong phú. Trong các phương thức thanh toán này, tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó. Song tín dụng chứng từ không phải là nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp phải không ít những rủi ro gây thiệt hại cả về tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Nam.  Các doanh nghiệp cần hiểu rõ đối tác về năng lực tài chính, tiểu sử về hoạt động sản xuất kinh doanh, lĩnh vực xuất nhập khẩu; khi ký hợp đồng phải chặt chẽ và tuân thủ các quy định của tiêu chuẩn quốc tế, các nguồn luật cần tuân thủ để khi có xảy ra tranh chấp sẽ dễ giải quyết.

UCP ra  đời với mục đích khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một bản quy tắc thống nhất cho hoạt động tín dụng chứng từ. Bản UCP đang được áp dụng hiện nay là UCP 600 (The Uniform Custom and Practice for Documentary Credits, ICC Publication No. 600) vẫn còn khá mới mẻ đối với các DN cũng như các NHTM. Chính vì vậy mà chúng tôi mạnh dạn đưa ra đề tài nghiên cứu: “ Một số vấn đề cần lưu ý của UCP 600” qua đó đưa ra một số đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các bên, giảm thiểu rủi ro trong phương thức thanh toán này.

Khái quát về ICC và UCP 600

1. Vài nét về phòng thương mại quốc tế ICC

Quyết định thành lập Phòng thương mại quốc tế (The International chamber of commerce dưới đây viết tắt là ICC) được thông qua tại Hội nghị quốc tế về thương mại, họp tại thành phố Atlantic-city vào tháng l0/1919, với sự tham gia của đại diện giới thương mại và công nghiệp của 5 nước Mỹ, Anh, Pháp, Bỉ và Ý. Ngày 24/10/1919 ngày thông qua quyết định thành lập ICC được coi là ngày thành lập ICC. Tháng 6/1920, tại Pa-ri đă tiến hành họp Ðại hội sáng lập (Constituent Congress) ICC với sự tham gia của gần 500 đại diện của 5 nước nói trên. Tại Ðại hội này, người ta đã thông qua Ðiều lệ, thành lập các cơ quan chức năng và quyết định lấy Paris làm trụ sở chính của ICC.

82 năm đă trôi qua kể từ khi điều lệ hoạt động của ICC được thông qua. Trong  ngần ấy năm trời, điều lệ của ICC đă nhiều lần được sửa đổi, bổ sung. Song toàn bộ những sửa đổi, bổ sung đó không làm thay đổi bản chất của điều lệ cũng như cơ cấu tổ chức của ICC mà chỉ nhằm làm rõ hơn nữa mục đích và nhiệm vụ mà ICC đã vạch ra cho mình từ những ngày đầu và hoàn thiện thêm cơ cấu tổ chức, nhằm bảo đảm cho việc lãnh đạo hoạt động của toàn bộ hệ thống các cơ quan của ICC có kết quả hơn.

Theo điều lệ, ICC là một liên đoạn tập hợp những lực lượng kinh tế chủ yếu nhất của từng nước hội viên vào các ủy ban quốc gia (National committes) ICC là một tổ chức Quốc tế phi chính phủ.

Mục đích và nhiệm vụ chính thức của ICC, như điều lệ qui định là: thông qua việc tác động tới tất cả các lĩnh vực của hoạt động kinh tế quốc tế bao gồm thương mại, công nghiệp, vận tải và tài chính) nhằm cài thiện các điều kiện quan hệ kinh tế giữa các nước và giải quyết những vấn đề kinh tế quốc tế, thiết lập các mối giao tiếp quốc tế và sự hiểu biết tương hỗ giữa các giới kinh tế và các tổ chức của chúng để trên cơ sở đó “gìn giữ hòa bình và củng cố các mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc”.

Song, trong thực tế, ngay từ lúc mới thành lập, ICC đã trở thành một tổ chức đai diện cho quyền lợi của các giới độc quyền ở các nước đế quốc. Các chinh kiến chính trị, triết học làm cơ sở nền tảng cho hoạt động của ICC, liên minh riêng của các giới đại diện khổng lồ của thế giới tư bản cùng những ảnh hưởng chính trị của họ, sự hiểu biết tuyệt vời về trạng thái kinh tế và các quy luật của các nước TBCN đã khiến cho ICC trở thành cương lĩnh thúc đẩy liên kết TBCN, hình thành và phát triển hệ thống liên đoàn độc quyền quốc tế.

Mục đích chủ yếu của ICC là bằng mọi cách, bảo vệ hòa bình cho các xí nghiệp kinh doanh tư nhân. Đấu tranh để thủ tiêu những trở ngại về kinh tế và chính trị đang kìm hãm việc tự do lưu thông tư bản, hàng hóa, sức lao động những nhà lãnh đạo ICC, dưới ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa độc quyền quốc tế, đang đưa ra một mô hình về thế giới TBCN trong tương lai như là một liên kết thống nhất trước hết là trong lĩnh vực kinh tế xã hội và sau đó là trong lĩnh vực chính trị. Họ cho rằng “hệ thống liên kết thống nhất” của TBCN sẽ dẫn tới việc sử dụng lực lượng sản xuất và tài nguyên hợp lý và có hiệu quả hơn và việc phân công lao động quốc tế trong thế giới TBCN cũng sẽ hợp lý hơn.

Các nhà tư bản luôn luôn coi ICC là người bảo vệ quyền lợi cho mình. ICC không phải là một tổ chức theo đuổi lục đích lợi nhuận nhưng nó được thành lập nhằm phục vụ cho các hãng, các công ty tư nhân TBCN chạy theo lợi nhuận và làm ra lợi nhuận. ICC là một tổ chức quốc tế hoạt động vì quyền lợi của các nhà kinh doanh tư nhân, được thành lập với mục đích thúc đẩy, nâng đỡ mọi bước đi của người buôn bán cá thể thông qua sự giúp đỡ có tính chất tập thể của các ủy ban quốc gia của ICC ở các nước cũng như của bản thân ICC.

Kể từ khi thành lập đến nay, ICC đã chứng kiến biết bao biến đổi của nền kinh tế thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế kếch sù đã ra đời và những quan điểm về nền kinh tế thế giới hôm nay đã khác xa với những quan điểm từng có trước đây. Song, tất cả những điều đó không hề làm giảm vai trò và uy tín của ICC. ICC vẫn đang là trung tâm đầu não thai nghén ra những tư tưởng và sáng kiến, trung tâm phối hợp hoạt động của thế giới tư bản-thế giới sản sinh ra hàng loạt những vấn đề lớn trong lĩnh vực phát triển kinh tế nói chung và chính sách kinh tế và tài chính nói riêng. Tất cả những điều này có thể dễ dàng thấy được thông qua số lượng hội viên, cơ cấu tổ chức và hoạt động của ICC.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, số hội viên của ICC và số các nước có đại diện của mình ở ICC đã tăng lên một cách đáng kể. Nếu như trước chiến tranh, ICC chỉ tập hợp các đại diện tư bản tư nhân của các nước đế quốc chủ yếu ở Châu Âu và Bắc Mỹ thì ngày nay đã có hơn 100 nước ở khắp các lục địa có đại diện ở ICC. Tính đến tháng 4/1987, hội viên của ICC gồm 7000 hãng công ty tư nhân có hoạt động gắn liền với việc kinh doanh quốc tế (Intemational business) và gần 2000 tổ chức kinh tế (các liên doanh công nghiệp, các phòng thương mại, các hiệp hội ngân hàng khác nhau…) liên kết, hợp hàng nghìn xí nghiệp kinh doanh tư nhân.

 

2. Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ UCP 600

Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ (tên tiếng Anh: The Uniform Customs and Practice for Documentary Credits – viết tắt là UCP) là một bộ các quy định về việc ban hành và sử dụng thư tín dụng (hay L/C). Sau 03 năm soạn thảo và chỉnh lý, ngày 25 tháng 10 năm 2006 Uỷ ban Ngân hàng của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) đã thông qua Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ mới (UCP 600) thay thế cho Bản Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ cũ (UCP 500). UCP 600 này sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007.

Bản UCP đầu tiên được ICC phát hành từ năm 1933 với mục đích là khắc phục các xung đột về luật điều chỉnh tín dụng chứng từ giữa các quốc gia bằng việc xây dựng một bộ quy tắc thống nhất cho hoạt động tín dụng chứng từ. Theo đánh giá của các chuyên gia, UCP là bộ quy tắc (thông lệ quốc tế) tư nhân thành công nhất trong lĩnh vực thương mại. Ngày nay, UCP là cơ sở pháp lý quan trọng cho các giao dịch thương mại trị giá hàng tỷ đô la hàng năm trên toàn thế giới. UCP được các ngân hàng và các bên tham gia thương mại áp dụng ở trên 175 quốc gia. Khoảng 11-15% thương mại quốc tế sử dụng thư tín dụng với tổng giá trị hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm.

 

UCP 600 có một số thay đổi cơ bản so với bản UCP 500 như sau:

(i)                          Thứ nhất, UCP 600 đã bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới dể làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500;

(ii)                       Thứ hai, thuật ngữ “thời gian hợp lý” (reasonable time) cho việc từ chối hoặc chấp nhận các tài liệu đã được thay thế bằng khoảng thời gian cố định là “05 ngày làm việc ngân hàng”;

(iii)                    Thứ ba, UCP 600 bổ sung thêm các quy định mới cho phép chiết khấu tín dụng thư chậm trả;

(iv)                     Thứ tư, theo UCP 600, các ngân hàng có thể chấp nhận tài liệu bảo hiểm có các nội dung dẫn chiếu đến các điều khoản miễn trừ (exclusion clause).

Để có thể hiểu và thực hiện chính xác, có hiệu quả các quy định của UCP 600, trong khoảng thời gian 07 tháng còn lại, các ngân hàng và doanh nghiệp được khuyến cáo là phải nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định mới của UCP 600.

So với phiên bản cũ, UCP600 có nhiều điểm nổi bật hơn. Các từ ngữ trong thanh toán quốc tế được ghi ngắn gọn và rõ ràng hơn, các điều kiện giao dịch được cụ thể hóa hơn và không còn mơ hồ để có thể tạo ra tranh chấp giữa các bên. Cụ thể,  UCP 600 giải thích các quy định pháp lý trong tín dụng và bổ sung mới như cho phép dùng các thuật ngữ “hạng nhất”, thời gian xử lý chứng từ đã được rút ngắn từ 7 ngày xuống 5 ngày…UCP 600 quy định nếu xuất trình chứng từ phù hợp thì phải thanh toán; nếu xuất trình không phù hợp, ngân hàng phát hành, ngân hàng xác nhận…có quyền từ chối thanh toán hoặc thương lượng thanh toán. Ở điều khoản 28, UCP 600 có quy định rõ ngoài đại lý, còn có thêm “người ủy quyền” tham gia bảo hiểm; quy định không gian bảo hiểm; quy định mức bảo hiểm tối  

Khi công việc sửa đổi bản quy tắc ban đầu, một số khảo sát trên phạm vi quốc tế chỉ ra rằng khoảng 70% chứng từ xuất trình theo Thư tín dụng bị từ chối trong lần xuất trình đầu tiên do có những sai sót. Rõ ràng điều này đã và sẽ tiếp tục ảnh hưởng xấu đến Thư tín dụng vốn được coi là một phương tiện thanh tóan, và nếu không được điều chỉnh, sẽ có những tác động nghiêm trọng đến việc duy trì và gia tăng thị phần của tín dụng chứng từ như là một phương tiện thanh toán quan trọng trong thương mại quốc tế. Việc một số ngân hàng đưa ra phí sai biệt của chứng từ càng chứng tỏ tầm quan trọng của vấn đề này, đặc biệt là nhiều sai sót không rõ ràng và hợp lý. Mặc dù số vụ kiện cáo không tăng trong thời gian áp dụng UCP 500, việc ban hành bản Quy tắc Giải quyết tranh chấp về tín dụng chứng từ (DOCDEX) của ICC vào tháng 10/1997 (và được sửa đổi vào tháng 3/2002) đã dẫn đến hơn 60 vụ kiện phải xét xử.

Để giải quyết những vấn đề này và một số vấn đề khác có liên quan, Ủy ban Ngân hàng thành lập Nhóm soạn thảo để sửa đổi UCP 500. Nhóm thứ hai là nhóm tư vấn cũng được thành lập để rà soát và góp ý cho các dựthảo do Nhóm soạn thảo đệ trình. Nhóm tư vấn, với trên 40 thành viên từ 26 quốc gia, bao gồm nhiều chuyên gia trong ngành ngân hàng và vận tải. Dưới sự chỉ đạo của John Turbull, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn ngân hàng Sumitomo Mitsui Châu Âu tại London và Carlo Di Ninni, Cố vấn Hiệp hội ngân hàng Italia tại Rome, Nhóm tư vấn đã đưa ra những góp ý rất có giá trị cho Nhóm soạn thảo trước khi đệ trình dự thảo lên các ủy ban quốc gia của ICC.

Nhóm soạn thảo bắt đầu quá trình rà soát bằng việc phân tích những ý kiến chính thức của Ủy ban Ngân hàng đối với UCP 500. khoảng 500 ý kiến đã được xem xét để đáng giá xem khi giải quyết các vấn đề phát sinh sẽ cần phải sửa đổi, bổ sung hay xóa bỏ điều khoản nào trong UCP. Ngoài ra, Nhóm cũng xem xét 4 bản đánh giá do Ủy Ban Ngân hàng đưa ra vào tháng 9/1994, 2 Quyết định của Ủy ban Ngân hàng (liên quan đến đồng euro và quy định về việc xác định chứng từ gốc theo tiểu mục 20(b) của UCP 500 và các phán quyết được ban hành trong các vụ kiện của DOCDEX).

Trong quá trình sửa đổi, nhóm làm việc cũng lưu ý đến khối lượng công việc đáng kể phải hoàn thành khi soạn thảo Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (International Standard Banking Practice for the Examination of Documents under Documentary Credits – ISBP), ấn phẩm ICC số 645. Ấn phẩm này đã trở thành một tài liệu quan trọng kèm theo UCP để xác định mức độ phù hợp của chứng từ với các điều khoản của thư tín dụng. Nhóm soạn thảo và Ủy ban Ngân hàng hy vọng các nguyên tắc của ISBP, kể cả các sửa đổi sau này, sẽ tiếp tục được áp dụng trong thời gian UCP 600 có hiệu lực. Khi UCP 600 được áp dụng, ISBP cũng sẽ được cập nhật để nội dung của nó phù hợp với bản chất và hình thức của Quy tắc mới.

Bốn bản đánh giá phát hành vào tháng 9/1994 dựa trên các nguyên tắc của UCP 500, do đó sẽ không áp dụng được cho UCP 600. Những vấn đề quan trọng trong Quyết định về việc xác định chứng từ gốc đã được đưa vào nội dung của UCP 600. Phán quyết trong các vụ kiện của DOCDEX vẫn dựa theo ý kiến đánh giá của Ủy ban Ngân hàng ICC nên không có nội dung cụ thể nào cần điều chỉnh trong bản quy tắc này.

Một trong những thay đổi trong cấu trúc của UCP là đã đưa vào các điều khoản về định nghĩa (điều 2) và giải thích (điều 3). Khi đưa ra định nghĩa về vai trò của ngân hàng và ý nghĩa của các thuật ngữ và sự kiện cụ thể, UCP 600 không nhắc lại lời văn để mô tả cách giải thích và áp dụng. Tương tự, điều khoản giải thích nhằm loại bỏ sự mập mờ hoặc không rõ ràng trong ngôn ngữ thường xuất hiện trong thư tín dụng và đưa ra sự giải thích dứt khoát các đặc trưng của UCP hoặc thư tín dụng.

Trong 3 năm qua, các ủy ban quốc gia của ICC đã nghiên cứu hàng loạt vấn đề có liên quan để lựa chọn ra được văn bản phù hợp nhất mà nhóm soạn thảo trình lên. Kết quả của việc nghiên cứu này cũng như nhiều đóng góp của các Ủy ban quốc gia đối với nhiều mục trong văn bản được thể hiện rõ trong nội dung của UCP 600. Nhóm soạn thảo đã không chỉ xem xét thực tiễn đang diễn ra có liên quan đến tín dụng chứng từ mà còn cân nhắc cả những xu hướng phát triển của nó trong tương lai.

Bản sửa đổi UCP này là kết quả của hơn 3 năm phân tích rà soát, tranh luận và dung hòa giữa các thành viên của nhóm soạn thảo, Ủy ban Ngân hàng và các Ủy ban quốc gia có liên quan của ICC. Các góp ý rất có giá trị cũng được giử đến từ Ủy ban về Vận tải và logistics của ICC Ủy ban về pháp luật và Thực hành thương mại và Ủy ban về bảo hiểm.

Việt Nam đang đứng trước thềm hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới với tốc độ và quy mô trao đổi thương mại ngày càng tăng nhanh, một khi phương thức thanh toán tín dụng chứng từ vẫn là phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu thì yêu cầu tìm hiểu những quy tắc và tập quán quốc tế trong thanh toán xuất nhập khẩu như UCP 600 là một yêu cầu quan trọng cho các ngân hàng và doanh nghiệp Việt Nam.

3. Nội dung của UCP 600:

Điều 1: Áp dụng UCP

Điều 2: Định nghĩa

Điều 3: Giải thích

Điều 4: Tín dụng và hợp đồng

Điều 5: Các chứng từ và hàng hóa, dịch vụ hoặc các thực hiện

Điều 6: Thanh toán, ngày hết hạn và nơi xuất trình

Điều 7: Cam kết của Ngân hàng phát hành

Điều 8: Cam kết của Ngân hàng xác nhận

Điều 9: Thông báo tín dụng và các sửa đổi

Điều 10: Sửa đổi tín dụng

Điều 11: Tín dụng và sửa đổi được sơ báo và chuyển bằng điện

Điều 12: Sự chỉ định

Điều 13: Thỏa thuận hoàn trả giữa các ngân hàng

Điều 14: Tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ

Điều 15: Xuất trình phù hợp

Điều 16: Chứng từ có sai biệt, bỏ qua sai biệt và thông báo

Điều 17: Các chứng từ gốc và bản sao

Điều 18: Hóa đơn thương mại

Điều 19: Chứng từ vận tải dụng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau

Điều 20: Vận tải đơn

Điều 21: Giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng

Điều 22: Vận tải đơn theo hợp đồng thuê tàu

Điều 23: Chứng từ vận tải hàng không

Điều 24: Chứng từ vận tải đường bộ, đường sắt và đường song

Điều 25: Biên lai chuyển phát, biên lai bưu điện hoặc giấy chứng nhận bưu phẩm

Điều 26: Trên boong, người gửi hàng xếp và đếm, người gửi hàng kê khai gồm có và chi phí phụ thêm vào cước phí

Điều 27: Chứng từ vận tải hoản hảo

Điều 28: Chứng từ bảo hiểm và bảo hiểm

Điều 29: Gia hạn ngày hết hạn hiệu lực và ngày xuất trình cuối cùng

Điều 30: Dung sai về số tiền, số lượng và đơn giá

Điều 31: Giao hàng hoặc thanh toán từng phần

Điều 32: Giao hàng hoặc thanh  toán nhiều lần

Điều 33: Giờ xuất trình

Điều 34: Miễn trách về hiệu lực của chứng từ

Điều 35: Miễn trách về dịch thuật và chuyển giao thư tín

Điều 36: Bất khả kháng

Điều 37: Miễn trách về hành động của một bên ra chỉ thị

Điều 38: Tín dụng có thể chuyển nhượng

Điều 39: Chuyển nhượng số tiền thu được

 

4. Những con số thống kê

Quá trình sửa đổi UCP kéo dài hơn 3 năm (bắt đầu từ tháng 5/2003). Nhóm Dự Thảo UCP 600 đã có 15 cuộc họp với tổng thời gian hơn 45 ngày và đã nhận được khoảng 5000 ý kiến từ các UBQG. UBNH đã dành 7 ngày để thảo luận nội dung của UCP 600, bao gồm một cuộc họp thêm ở Dublin dành toàn bộ thời gian cho việc sửa đổi. Có 15 bản dự thảo được gửi đi; trong đó có 3 bản dự thảo đầy đủ. 9 bản dự thảo trong số 15 bản dự thảo đã được Nhóm Tư Vấn ICC xem xét trước khi được gửi đến các UBQG. Những bản dự thảo liên quan được gửi đến các uỷ ban chuyên môn của ICC: Uỷ ban Vận tải và Logistics, Uỷ ban Tập quán và Luật Thương mại và Uỷ ban Bảo hiểm để xem xét.

Một số điểm đáng lưu ý trong UCP 600

1. Những quy định tiến bộ trong UCP 600:

UCP 600 có những ưu điểm nổi bật sau đây:

 

1.1. Về hình thức

UCP 600 được bố cục lại với 39 điều khoản (so với 49 điều khoản của UCP 500) và được sắp xếp một cách khoa học, dễ tra cứu, trong đó bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của các thuật ngữ còn gây tranh cãi trong bản UCP 500.

Xét Điều 2 UCP 600:

“Ngân hàng thông báo là ngân hàng tiến hành thông báo tín dụng theo yêu cầu của ngân hàng phát hành.

Người yêu cầu là bên mà theo yêu cầu của bên đó, một tín dụng được phát hành.

Ngày làm việc ngân hàng là ngày mà vào ngày đó ngân hàng thường xuyên mở cửa tại nơi mà ở nơi đó một hoạt động có liên quan đến các Quy tắc này được thực hiện.

Người thụ hưởng là bên mà vì quyền lợi của  bên đó, một tín dụng được phát hành.

Xuất trình phù hợp nghĩa là việc xuất trình chứng từ phù hợp với các điều kiện và điều khoản của tín dụng, với các điều khoản có thể áp dụng của các Quy tắc này và với tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế.

Xác nhận là một cam kết chắc chắn của ngân hàng xác nhận thêm vào sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán hoặc thương lượng thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Ngân hàng xác nhận là ngân hàng theo yêu cầu hoặc theo sự ủy quyền của ngân hàng phát hành thêm sự xác nhận của mình đối với một tín dụng.

Tín dụng là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho được mô tả hoặc đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp.

Thanh toán có nghĩa là

a.    trả ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán ngay.

b.    Cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau.

c.     Chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận.

Ngân hàng phát hành là ngân hàng theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc nhân danh chính mình phát hành một tín dụng.

Thương lượng thanh toán là việc ngân hàng chỉ định mua các hối phiếu (ký phát đòi tiền ngân hàng khác, trừ ngân hàng chỉ định) và/hoặc các chứng từ khi xuất trình phù hợp bằng cách trả tiền trước hoặc ứng tiền trước cho người thụ hưởng vào hoặc trước ngày làm việc ngân hàng mà vào ngày đó ngân hàng chỉ định được hoàn trả tiền…”

è Nhận xét: rõ ràng ta thấy các định nghĩa và giải thích thuật ngữ rõ ràng này sẽ giúp cho các bên tham gia trong quy trình thanh toán tín dụng chứng từ tránh khỏi tranh chấp không đáng có.

Đặc biệt về  thương lượng thanh toán, trong UCP 500, thuật ngữ này được gọi là “ discount” chứ không phải “ negotiation” như ở bản 600 này. Điều này có ý nghĩa rất lớn  vì “Discount” có nghĩa là định giá và thanh toán  chỉ cho hối phiếu nhưng trong phương thức thanh toán TDCT, giao dịch giữa các bên là giao dịch trên cơ sở chứng từ mà rất nhiều bộ chứng từ khi xuất trình không đòi hỏi phải có hối phiếu. Trong những trường hợp này thuật ngữ “negotiation” thể hiện rõ bản chất của quá trình này hơn. Chiết khấu phải được hiểu là thương lượng thanh toán bằng thế chấp bộ chứng từ.

Tiếp theo là khoản quy định về thư tín dụng, so với UCP 500, UCP 600 đã quy định rõ ràng tín dụng là không thể hủy ngang. Quy định này thực sự rất có ý nghĩa đối với bên xuất khẩu, họ có thể giao dịch một cách an toàn hơn và không sợ bị bên nhập khẩu từ chối giao dịch giữa chừng. Bên cạnh đó, trong phương thức thanh toán TDCT, tín dụng phải là một tín dụng không thể hủy ngang thì mới có thể đảm bảo cho các ý nghĩa của phương thức này. Đó là sự đảm bảo thanh toán cho các bên.

Ngoài điều 2, điều 3 của UCP cũng giải thích rất kỹ các thuật ngữ được sử dụng trong thư tín dụng, làm cho các bên hiểu rõ ràng và giao dịch trôi chảy hơn.

 

1.2. Về thời gian làm việc ngân hàng

UCP 600 đã quy định rõ thời gian cho việc từ chối hoặc chấp nhận các chứng từ xuất trình là khoảng thời gian cố định “5 ngày làm việc ngân hàng” (five banking days). ở UCP 500, khoảng thời gian này được quy định không rõ ràng là “Thời gian hợp lý” (Reasonable Time) và “Không chậm trễ” (Without delay) để kiểm tra chứng từ và thông báo chứng từ bất hợp lệ. Cụ thể như sau:

UCP 600 Điều 14(b) và 16 (d)

Ngân hàng được chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, và ngân hàng phát hành sẽ có tối đa mỗi ngân hàng là 5 ngày làm việc tiếp theo ngày xuất trình chứng từ để xác định chứng từ xuất trình có hợp lệ hay không.

Thông báo (từ chối bộ chứng từ) theo yêu cầu ở điều 16(c) phải được gửi bằng viễn thông, hoặc, nếu không thể được, thì bằng các phương tiện nhanh chóng khác không muộn hơn ngày làm việc thứ 5 của ngân hàng tiếp theo ngày xuất trình chứng từ.

è Nhận xét: việc quy định rõ ràng thời hạn để ngân hàng làm việc ra quyết định từ chối hay không từ chối bộ chứng từ như trên là rất cần thiết. Khoảng thờp gian này cũng rất hợp lý để các ngân hàng xem xét chứng từ và đưa ra quyết định. Ngoài ra, so với 7 ngày trong UCP 500, 5 ngày trong UCP 600 có thể giúp đẩy nhanh quá trình xử lý chứng từ qua đó thúc đẩy nhanh hoạt động thương mại thông qua hình thức thư tín dụng. Quan trọng hơn nữa, quy định này sẽ chấm dứt những tranh chấp trong việc hiểu và vận dụng quy đinh thời gian hợp lý trong việc xử lý chứng từ của ngân hàng mà trên thực tế đã phát sinh.

1.3. Quy định về địa chỉ của Người yêu cầu và Người thụ hưởng

UCP 600 đã đưa ra quy định mới về địa chỉ của người yêu cầu mở và người hưởng lợi thư tín dụng phải được thể hiện trên chứng từ xuất trình đúng như trong L/C:

UCP 600 Điều 14(j)

Khi địa chỉ của người hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng thể hiện trên bất kỳ chứng từ nào thì không nhất thiết phải giống như địa chỉ trong thư tín dụng hoặc trong bất kỳ một chứng từ nào khác, tuy nhiên phải trong cùng nước với địa chỉ tương ứng quy định trong thư tín dụng. Các chi tiết liên lạc (số fax, điện thoại, email,…) là một phần địa chỉ của người hưởng và người yêu cầu mở thư tín dụng sẽ bị bỏ qua. Tuy nhiên, khi địa chỉ và các chi tiết liên lạc của người yêu cầu mở thư tín dụng xuất hiện như là một phần chi tiết của người nhận hàng hay bên được thông báo trong chứng từ vận tải theo điều 19, 20, 21, 22, 23, 24 hoặc 25 thì phải giống như trong thư tín dụng.

è Nhận xét: việc quy định địa chỉ của người thụ hưởng và người yêu cầu thể hiện trong các chứng từ không nhất thiết phải giống như đã nêu trong thư tín dụng hay các chứng từ khác là rất tiến bộ và hợp lý. Trên thực tế đã có nhiều trường hợp ngân hàng từ chối bộ chứng từ vì người thụ hưởng và người yêu cầu trong bộ chứng từ xuất trình không giống hoàn toàn với NTH NYC trong thư tín dụng. Việc quy định như trên sẽ giúp giảm thiểu các bộ chứng từ bị từ chối một cách không hợp lý và làm cho quá trình thực hiện L/C được linh hoạt hơn.

1.4 . Quy định về việc từ chối bộ hồ sơ:

UCP 600 Điều 16(c)

Khi ngân hàng được chỉ định, ngân hàng xác nhận, nếu có, hoặc ngân hàng phát hành quyết định từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu bộ chứng từ xuất trình, thì phải gửi một thông báo duy nhất cho người xuất trình.

Thông báo phải nêu rõ:

i. Ngân hàng từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu; và

ii. Mỗi điểm bất hợp lệ theo đó ngân hàng từ chối chấp nhận hoặc chiết khấu; và

iii. a) Ngân hàng đang giữ chứng từ chờ các chỉ dẫn tiếp theo từ người xuất trình; hoặc

b) Ngân hàng phát hành đang giữ bộ chứng từ cho tới khi nhận được chấp nhận bộ chứng từ bất hợp lệ của người yêu cầu mở thư tín dụng và đồng ý với việc chấp nhận đó; hoặc nhận các chỉ dẫn tiếp theo từ người xuất trình trước khi đồng ý việc chấp nhận bộ chứng từ của người mở yêu cầu thư tín dụng; hoặc

c) Ngân hàng đang gửi trả lại bộ chứng từ; hoặc

d) Ngân hàng đang hành động theo các chỉ dẫn từ người xuất trình chứng từ đã nhận từ trước.

è Nhận xét: Như vậy theo quy định mới này của UCP 600, ngân hàng phát hành hoặc ngân hàng chỉ định có thể lựa chọn hình thức định đoạt cho chứng từ một cách linh hoạt và thích hợp để thông báo cho người xuất trình. Chẳng hạn trong trường hợp bộ chứng từ xuất trình có sai sót, nhưng người nhập khẩu quyết định bỏ qua lỗi để nhanh chóng lấy được bộ chứng từ đi nhận hàng chỉ cần thông báo bỏ qua sai biệt và chấp nhận sai biệt cho phía ngân hàng là có thể rút ngắn thời gian lấy chứng từ đi nhận hàng, giảm thiểu các thiệt hại về phí lưu kho, nhanh chóng giải phóng hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong thời kì kinh tế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thời gian là yếu tố quyết định.

 

1.5. Quy định về vấn đề chiết khẩu hối phiểu trả chậm:

Điều 7 UCP 600: Trích dẫn thêm khái niệm “Honour” để làm rõ nghĩa hơn việc Ngân hàng chỉ định được bảo vệ trong trường hợp thanh toán trước hạn đối với L/C trả chậm. Theo đó, Ngân hàng chỉ định được phép ứng trước/chiết khấu trước cho Người hưởng lợi ngay cả khi không có hối phiếu.

Cam kết hoàn trả của NH phát hành cho NH được chỉ định tách biệt độc lập với cam kết thanh toán của NH phát hành cho người thụ hưởng.

Điều 8 nhấn mạnh trách nhiệm của Ngân hàng xác nhận đối với trường hợp chứng từ xuất trình phù hợp, thanh toán và “chiết khấu miễn truy đòi” nếu tín dụng thư được xuất trình cho Ngân hàng xác nhận để chiết khấu. Cam kết hoàn trả của NH xác nhận đối với NH được chỉ định độc lập với cam kết thanh toán của NH xác nhận đối với người thụ hưởng

Điều 12 UCP 600 cũng quy định rõ: Bằng cách chỉ định một ngân hàng chấp nhận một hối phiếu hoặc cam kết trả tiền sau, ngân hàng phát hành đã uỷ quyền cho ngân hàng chỉ định đó trả trước hoặc mua một hối phiếu đã được chấp nhận hoặc cam kết trả tiền sau.

è Với việc quy định rõ trách nhiệm của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận về việc hoàn trả vào ngày đáo hạn của bộ chứng từ dù ngân hàng chỉ định có trả trước hối phiếu hay mua lại bộ chứng từ. Do vây, các ngân hàng chỉ định hoàn toàn có thể quyết định việc thương lượng chứng từ mà không lo bộ chứng từ đó cò phải giả mạo không, miễn là bộ chứng từ đó phù hợp với các quy định của L/C. Những quy định mới này cũng một phần tạo cơ sở pháp lý cho các ngân hàng mạnh dạn thực hiện việc chiết khấu đối với các L/C trả chậm. Nghiệp vụ này vừa giúp ngân hàng có thể thu được một khoản phí, vừa giúp người thụ hưởng không bị tồn đọng vốn trong kinh doanh.

 

1.6.Các quy định về chứng từ vận tải:

Điều 19 UCP 600: điều chỉnh về chứng từ vận tải đa phương thức. Thay vì gọi là vận tải đa phương thức như trong UCP 500 thì trong của điều 19UCP 600 lại gọi 1 cách rõ ràng là “ chứng từ vận tải dùng cho ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau”. Cách gọi này rõ ràng và dễ hiểu hơn, hơn nữa nhấn mạnh được tầm quan trọng của loại chứng từ này.

Quy định về “chứng từ vận tải sạch” trong điều 27 UCP 600 cũng có nhiều điểm tiến bộ. Theo điều này, từ “ sạch” không cần phải được thể hiện trên bề mặt của chứng từ vận tải, ngay cả khi L/C yêu cầu xuất trình một vận đơn sạch. Quy định này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn  khi trên thực tế một vận đơn chỉ cần không có phê chú xấu thì được coi là vận đơn sạch chứ không cần có chữ “ clean” trên bề mặt. Việc quy định như trên sẽ làm giảm bớt các rắc rối không đáng có trong quá trình thu  thập bộ chứng từ của bên xuất khẩu.

Điều 19.c.i và ii chấp nhận chứng từ vận tải ghi là cho phép chuyển tải miễn là chỉ có duy nhất một chứng từ vận tải. Ngay cả nếu L/C cấm chuyển tải, thì việc chứng từ vận tải diễn đạt là sẽ có hoặc có thể có chuyển tải vẫn không được coi là lỗi sai sót. Trong thực tế khi chưa có UCP 600, có những trường hợp các ngân hàng bắt lỗi bộ chứng từ khi L/C quy định là cấm chuyển tải mà trong chứng từ vận tải lại ghi là có thể chuyển tải. Với quy định rõ ràng trong điều 19 này sẽ giúp hạn chế những sự không rõ ràng và tránh việc từ chối bộ hồ sơ một cách không hợp lý. Ngoài ra còn tránh cho người xuất khẩu những phiền toái mất  thời gian khi cố gắng đổi chứng từ khi họ được cấp chứng từ có ghi là “ có thể chuyển tải” lấy chứng từ đúng như L/C quy định là “ không thể chuyển tải”.

 

2. Một số tồn tại UCP 600 vẫn chưa giải quyết được

 

Về cơ bản, UCP 600 đã có nhiều điểm mới nhằm xác định rõ và giải quyết những xung đột trong thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ mà UCP 500 chưa thực hiện được. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, UCP 600 vẫn chưa giải quyết được tất cả các vấn đề thực tiễn đầy phong phú và phức tạp, đòi hỏi ICC phải tiếp tục nghiên cứu và sửa đổi để có thể đáp ứng được sự thay đổi liên tục trong thương mại quốc tế. dưới đây là một số bất cập mà  UCP 600 vẫn chưa giải quyết được:

 

 

2.1. Giải thích thuật ngữ:

UCP 600 chưa phân biệt “one copy of” và “in one copy”. Theo điều 17 (d) và (e) UCP600 quy định:

Điều 17 (d). Nếu thư tín dụng yêu cầu xuất trình chứng từ là “copies of” thì việc xuất trình bản gốc hay bản sao đều được chấp nhận. (If a credit requires presentation of copies of documents, presentation of either originals or copies is permited).

Điều 17 (e). Nếu thư tín dụng yêu cầu xuất trình nhiều bản chứng từ bằng cách sử dụng các cụm từ như “in duplicate”, “in two fold”, “in two copies” thì sẽ được thỏa mãn khi xuất trình ít nhất một bản gốc và những bản còn lại là bản sao, trừ khi bản thân chứng từ thể hiện khác. (If the credit requires presentation of multiple documents by using terms such as “in duplicate”, “in two fold” or “in two copies”, this will be satisfied by the presentation of at least one original and the remaining number in copies, except when the document ifself indicates otherwise).

Theo ISBP : “one copy of” có nghĩa là “một bản sao” trong khi đó, “in one copy” có nghĩa là một bản gốc. như vậy trong UCP cũng như ISBP vẫn chưa có sự phân biệt một cách rõ ràng về cụm từ “ one copy of” và “ in one copy”. 

 

2.2. Điều khoản về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ.

Điều 14 UCP 600 quy định về tiêu chuẩn kiểm tra chứng từ. Điều này là sự kết hợp rất nhiều các điều khoản cũ trong UCP 500  như điều khoản 13, 21, 22, 31, 37, 43. Điều khoản này cũng đã xóa bỏ một số bất cập của UCP 500 như loại bỏ cụm từ gây nhiều tranh cãi “sự cẩn thận hợp lí” của ngân hàng khi kiểm tra chứng từ. Đồng thời, điều 14 cũng loại bỏ quy định kiểm tra chứng từ của ngân hàng “trong thời gian hợp lí nhưng không quá … ngày” mà thay vào đó là “ tối đã 5 ngày làm việc” . Tuy nhiên, bên cạnh đó, điều 14 lại có quy định khá mơ hồ về việc kiểm tra các dữ liệu trong chứng từ xuất trình. Cụ thể “dữ liệu trong một chứng không nhất thiết phải giống hệt như khi đọc lời văn của tín dụng, của bản thân chứng từ và của tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế nhưng không được mâu thuẫn với dữ liệu trong chứng từ đó, với bất cứ chứng từ theo quy định khác hoặc với thư tín dụng”. Hiện nay người được kiểm tra chứng từ khi kiểm tra chứng từ sẽ xem xét các dữ liệu trong các loại chứng từ có giống nhau và giống với thư tín dụng hay không. Với quy định này rất khó xác định thế nào là dữ liệu ko mâu thuẫn với nhau và nhiều khi việc quyết định xem các dữ liệu, thông số có mâu thuẫn hay không lại phụ thuộc vào trình độ và sự nhạy cảm của người kiểm tra chứng từ.

 

2.3. Các vấn đề với chứng từ vận tải:

Chứng từ vận tải là một vấn đề nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp từ các chuyên gia trên thế giới. Tuy nhiên, UCP 600 lại không có nhiều sửa đổi liên quan đến vấn đề này. Đồng thời, những vấn đề mà UCP 600 đã sửa đổi thì vẫn còn tồn tại một số bất cập:

 

·       Điều 19, UCP 600: chứng từ vận tải dùng cho ít nhất 2 phương thức vận tải khác nhau.

Rõ ràng, tên của điều khoản này đã có vấn đề. Như vậy, nó chỉ áp dụng với các hành trình có ít nhất 2 phương thức vận tải khác nhau trở lên. Nhưng theo quy tắc của ICC, các quy định về chứng từ vận tải đa phương thức vẫn được áp dụng cho các hành trình chỉ có duy nhất 1 phương thức vận tải và trên thực tế, chứng từ vận tải đa phương thức vấn được áp dụng với hành trình chỉ áp dụng phương thức vận chuyển đường bộ, thậm chí vận tải hàng không. Như vậy, tên của điều khoản này là không hợp lý và không bám sát các quy định của ICC.

 

·       Điều 21 UCP 600: giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng ( Non- negotiable sea way bill)

Theo quy định trong điều này thì giấy gửi hàng đường biển không chuyển nhượng chỉ được coi là một chứng thư đường biển và không chuyển nhượng được nhưng theo quy tắc thống nhất của CMI thì chứng từ này có thể được sử dụng như một chứng từ vận tải đa phương thức. Như vậy, UCP 600 vẫn còn mâu thuẫn với quy tắc trong CM

Điều 20:  vận tải đơn.

- Theo quy định của UCP 600 điều 20 mục iii: vận tải đơn chỉ cần quy định giao hàng từ cảng xếp hàng tới càng dỡ hàng là đủ. Nhưng trên thực tế, những người sử dụng không chỉ cần duy nhất thông tin từ cảng bốc hàng và cảng dỡ hàng mà còn cần nó thể hiện được toàn bộ hành trình vận chuyển của lô hàng (từ nơi nhận hàng để chở tới càng xếp hàng, từ cảng dỡ hàng đến nơi giao hàng cuối cùng).

Mặc dù UCP không có thay đổi gì về vấn đề nêu trên nhưng thực tế các hãng vận tải đã thiết kế mẫu vận đơn của mình để thể hiện toàn bộ hành trình của hàng hóa, từ nơi nhận hàng để chở tới càng xếp hàng, từ cảng dỡ hàng đến nơi giao hàng cuối cùng. Đồng thời, toàn bộ hệ thống ngân hàng thế giới đã có những thay đổi trong mẫu điện MT 700 và điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp.  Cụ thể là từ ngày 20/11/2006, tất cả các điện MT700 phát hành L/C đã bổ sung thêm 2 trường hợp 47E và 47F để thiện hiện cảng xếp hàng và cảng dỡ hàng. Còn 2 trường hợp 47A và 47B được dùng để thể hiện nơi nhận hàng để chở và nơi giao hàng cuối cùng.

- Bên cạnh đó, cũng trong điều 20 UCP 600 quy định quy định đại lý ký vận đơn đường biển

“Chữ ký của đại lý phải chỉ rõ là đại lý đã ký thay cho hoặc đại diện cho người chuyên chở hoặc thay cho hoặc đại diện cho thuyền trưởng”. Như vậy, trong điều 20 UCP 600 không hề đề cập đến vấn đề khi đại lý của thuyền trưởng ký vận đơn thì không cần nêu rõ tên thuyền trưởng hoặc hãng vận tải và chỉ cần nêu rõ tên hãng vận tải trên bất cứ phần nào trên bề mặt vận đơn. Nếu hiểu như vậy, thì chúng ta không thể biêt chắc rằng hãng vận tải là ai vì chỉ cần ghi tên hãng vận tải lên trên bề mặt vận đơn, và đó chưa chắc đã là hãng vận tải mà đại lý đại diện cho. Như vậy, theo một số chuyên gia thì cách sử dụng ngôn ngữ trong điều 20 UCP 600 khá mơ hồ trong khi UCP 500 lại quy định khá rõ ràng về vấn đề này.

 

·       Vấn đề “ngày hiệu lực” của chứng từ bảo hiểm:

Liên quan đến vấn đề bảo hiểm hàng hóa, ngày hiệu lực của một chứng từ bảo hiểm ko có liên quan j tới “ ngày phát hành”  của chứng từ đó( như các ngân hàng xưa nay vẫn nghĩ).  Thực chất, ngày hiệu lực của chứng từ phụ thuộc vào sự kiện xảy ra, hay nói chính xác hơn là “ngày bắt đầu xảy ra sự kiện” như quy định rõ trong mục 8.1 của điều khoản thời hạn hiệu lực của các điều khoản bào hiểm hàng hóa (A), (B), (C), Institute Cargo Clauses (A), (B), (C).

Thêm vào đó, ngày phát hành chứng từ vận tải đặc biệt không có ý nghĩa trong trường hợp nhà xuất khẩu ký hợp đồng bao( open cover). Tất cả các chuyến hàng sẽ tự động được bảo hiểm theo hợp đồng này, và đối với từng chuyến hàng, hãng bảo hiểm sẽ phát hành một giấy chứng nhận bảo hiểm mà ngày phát hành của nó không hề thể hiện đó là ngày hiệu lực của việc bảo hiểm. Chính vì vậy, việc UCP 600 quy định ngày phát hành của chứng từ bảo hiểm phải trước hoặc trùng với ngày giao hàng là không chính xác và không phù hợp với thưc tiễn của ngành bảo hiểm.

 

2.4. Một số điều không hợp lí trong quy định trách nhiệm của ngân hàng thông báo

Điều 9 UCP 600 quy định về việc thông báo thư tín dụng và các sửa đổi theo đó “ bằng việc thông báo thư tín dụng hoặc sửa đổi thư tín dụng, ngân hàng thông báo phải thể hiện là nó đã kiểm tra tính chân thực của thư tín dụng hoặc sửa đổi đó và thông báo đó phải phản ánh chính xác các điều khoản của thư tín dụng hoặc sửa đổi mà ngân hàng thông báo đó đã nhận được. Nghĩa vụ của ngân hàng thông báo thứ hai cũng giống như ngân hàng thông báo”. Trong trường hợp bình thường, nếu một ngân hàng thông báo trực tiếp cho người hưởng lợi về thư tín dụng, ngân hàng đó chỉ việc làm một tờ thông báo về thư tín dụng ( notification of letter of credit) và kèm theo đó là bức điện MT 700 (chính toàn bộ thư tín dụng) mà nó nhận được từ ngân hàng phát hành và gửi cho người hưởng. Như vậy ngân hàng hoàn toàn có thể thực hiện các yêu cầu của điều 9. Tuy nhiên trong trường hợp ngân hàng thông báo không thông báo trực tiếp thư tín dụng cho người hưởng mà phải thông báo qua ngân hàng thông báo thứ hai thì rất khó có thể thực hiện được quy định “ phán ánh chính xác các điều khoản”. Trong thực tế, ngân hàng phát hành sẽ gửi điện MT 700 tới ngân hàng thứ hai để thông báo về thư tín dụng. Điện MT 700 này phải bao gồm toàn bộ nội dung của MT 700 (có đầy đủ các trường hợp như của MT700 ). Tuy nhiên có những điều khoản mà trong MT 700 ngân hàng phát hành chỉ gửi cho ngân hàng thông báo thứ nhất, không phải ngân hàng thông báo thứ hai. Trong trường hợp đó ngân hàng thông báo thứ nhất sẽ cắt bỏ những điều khoản đó, không đưa vào trong nội dung của MT 700 gửi cho ngân hàng thông báo thứ hai. Kế quả là, nếu làm như vậy sẽ không thực hiện được đúng như yêu cầu của điều 9. Đây là một vấn đề mà UCP 600 đã không bám sát thực tiễn hoạt động của các ngân hàng, gây khó khăn trong quá trình thực hiện nghiệp vụ ngân hàng.

Nói tóm lại, mặc dù UCP 600 đã có nhiều đổi mới vượt trội so với UCP 500 song không phải vì thế mà nó không có những bất cập. Vì vậy, trước khi ICC có thể sửa đổi và ban hành một bản UCP mới thì các ngân hàng và các doanh nghiệp Việt Nam cần tìm hiểu kỹ lưỡng để áp dụng UCP 600 chính xác và hiệu quả, chú ý những bất cập để có thể thỏa thuận với đối tác, tránh tình trạng nhầm lẫn, không thống nhất dẫn đến những tranh chấp không đáng có.

Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng UCP600

Sau gần 15 năm đi vào sử dụng, UCP500 đã cho thấy tầm quan trọng của nó trong các giao dịch thương mại quốc tế. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển của kinh tế thế giới như hiện nay, giao thương giữa các nước ngày càng phát triển thì việc UCP600 ra đời thay thế cho UCP500 là điều tất yếu. UCP600 đã khắc phục được những bất cập của UCP500, nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ. Tuy nhiên, UCP600 chỉ mới có hiệu lực từ ngày 01/07/2007, do đó, để nắm bắt và sử dụng bộ văn bản này một cách có hiệu quả không phải là điều dễ dàng. Dưới đây là một số đề xuất đối với Nhà nước, các Ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng UCP600, đẩy nhanh tốc độ của các hoạt động thương mại quốc tế.

 

1. Đối với Nhà nước

Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động thanh toán quốc tế, cụ thể là ban hành các văn bản Luật, dưới luật, pháp lệnh, nghị định…. qui định rõ ràng trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của các bên tham gia. Đồng thời đây cũng là cách tốt để giải quyết tranh chấp trong trường hợp có xung đột pháp luật giữa UCP600 và luật quốc gia.

Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa UCP600 với các hiệp ước, thỏa ước quốc tế…. giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài nằm trong phạm vi điều chỉnh của các hiệp ước này thì luật pháp Việt Nam càng cần phải tỏ rõ vai trò của mình để giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được lợi thế với bạn hàng nước ngoài.

Để làm được điều này, vai trò của Ngân hàng Nhà nước là vô cùng quan trọng. Ngân hàng Nhà nước phải là người soạn thảo, đưa ra những đề xuất đối việc xây dựng các khung văn bản cho hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ nói riêng.

Một thực trạng hiện nay là khi phát sinh các tranh chấp, mâu thuẫn về thanh toán quốc tế bằng tín dụng chứng từ, rất nhiều các cơ quan phải tham gia như Vụ quản lý ngoại hối, Vụ pháp chế…mà không có một cơ quan đặc trách nào về hoạt động thanh toán quốc tế. Vai trò của cơ quan này không chỉ giúp các doanh nghiệp Việt Nam giải quyết tranh chấp liên quan đến thanh toán mà còn là cơ quan tư vấn, giải thích, đào tạo cho các bên tham gia hoạt động thanh toán quốc tế hiểu rõ các văn bản pháp luật liên quan như UCP600 để từ đó có các biện pháp sử dụng đạt hiệu quả tối đa nhất cho mình.

 

2. Đối với các Ngân hàng thương mại

Điều cần thiết đầu tiên với các Ngân hàng thương mại đó là cần phải nhanh chóng cập nhật UCP600 cho các cán bộ nhân viên phụ trách hoạt động thanh toán quốc tế. Triển khai các lớp hướng dẫn, các khóa đào tạo để bổ sung, hướng dẫn cách sử dụng UCP600. Đặc biệt, việc tham dự các khóa đào tạo, hội thảo của các Ngân hàng trong và ngoài nước về nghiệp vụ thanh toán tín dụng chứng từ áp dụng UCP600 là vô cùng quan trọng. Thông qua các khóa học, các buổi hội thảo này, các Ngân hàng trong nước có thể học hỏi lẫn nhau, học hỏi các Ngân hàng nước ngoài để được tiếp cận với những thông tin mới nhất, được trực tiếp giải thích và hướng dẫn về cách sử dụng UCP600 sao cho hiệu quả nhất.

Sau khi đã có được những hiểu biết về các qui định trong phương thức tín dụng chứng từ của UCP600, các Ngân hàng nên triển khai trong toàn hệ thống. Điều này có nghĩa là mỗi ngân hàng nên ban hành các qui định, quy trình thanh toán quốc tế trong hệ thống của mình một cách chặt chẽ, nhất quán, tuân theo quy tắc, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy của Ngân hàng đó. Từ đó, các giao dịch hàng ngày được diễn ra nhanh chóng, chính xác, theo đúng qui định.

Ngân hàng và khách hàng của mình là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là hai yếu tố không thể tách rời nhau trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng. Do đó, việc thường xuyên trao đổi thông tin hai chiều để giúp đỡ nhau tiến hành hoạt động giao dịch thương mại quốc tế an toàn, nhanh chóng là hết sức cần thiết. Vì thế, các Ngân hàng nên mở các lớp nghiệp vụ cho khách hàng đề giúp họ nắm rõ các qui định trong UCP600, tư vấn, hướng dẫn để họ có biện pháp sử dụng tín dụng chứng từ trong thanh toán quốc tế một cách tối ưu nhất.

 

3. Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Phương thức tín dụng chứng từ thường được các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam áp dụng với những bạn hàng quốc tế trong những lần giao dịch đầu tiên, do chưa khẳng định chắc chắn độ tin cậy của những bạn hàng này. Do đó, phương thức tín dụng chứng từ với độ an toàn cao đã được các doanh nghiệp này lựa chọn. Để tránh những rủi ro mắc phải, các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải trang bị những kiến thức nhất định liên quan đến phương thức này và đặc biệt là các nguồn luật, qui tắc điều chỉnh. Trong khi tiến hành nghiệp vụ xuất nhập khẩu liên quan đến thanh toán cần xem xét kỹ lưỡng mọi chứng từ, đối chiếu với các qui định của UCP600. Ngoài ra với một số bất cập của UCP600, các doanh nghiệp nên qui định cụ thể trong bộ tín dụng chứng từ để hạn chế tối đa khả năng phát sinh các rủi ro.

Hiện nay, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam còn gặp nhiều rủi ro trong các giao dịch thương mại với nước ngoài. Một trong những rủi ro thường gặp là rủi ro trong thanh toán quốc tế. Điều này cũng có thể dễ dàng lý giải là do một số các doanh nghiệp hoạt động còn non trẻ, các giám đốc, nhân viên phòng xuất nhập khẩu có trình độ chưa cao, chưa cập nhật, bổ sung hết các kiến thức về nghiệp vụ thanh toán, nhất là thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ. Do đó, việc đầu tiên cần hoàn thành đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu là cử cán bộ, nhân viên tham gia các khóa đào tạo, hướng dẫn sử dụng tín dụng chứng từ và các qui định liên quan do các Ngân hàng, Phòng Thương mại và Công nghiệp tổ chức.

Song song với đó, chính các cán bộ, các doanh nghiệp này cũng cần tìm hiểu, cập nhật kiến thức qua các phương tiện khác nhau để trang bị thêm cho mình những hiểu biết nhất định về hoạt động thanh toán quốc tế, tránh gặp phải rủi ro về thanh toán với bạn hàng nước ngoài.

Như vậy, UCP600 ra đời đã khắc phục những bất cập của UCP500, giúp các bên tham gia hiểu rõ hơn các qui tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ. Để sử dụng hiệu quả UCP600, các bên tham gia sẽ cần phải ngày càng hoàn thiện dần các hoạt động của mình và để đạt được hiệu quả tối ưu nhất đòi hỏi nỗ lực của cả một hệ thống: từ Nhà nước đến các Ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Sự trợ giúp lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để có được lợi thế trong hoạt động thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng

KẾT LUẬN

Trong những năm qua, với việc mở rộng giao lưu hợp tác khu vực và trên thế giới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong đó phải kể đến là lĩnh vực thanh toán quốc tế. Kim ngạch xuat nhập khẩu tăng mạnh qua các năm, nền kinh tế dần được cải thiện và phát triển. Đạt được kết quả đó phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các ngân hàng thương mại với tư cách là trung gian thanh toán quốc tế, với phương thức thanh toán chủ yếu là tín dụng chứng từ, các ngân hàng đã giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng, liên tục và đạt hiệu quả cao.

Trong những năm gần đây, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế đã không ngừng đổi mới cho phù hợp với những yêu cầu của khách hàng. Bằng uy tín, nguồn vốn và kinh nghiệm dày dạn của các ngân hàng thương mại trong hoạt động thanh toán quốc tế, đặc biệt trong công tác thanh toán tín dụng chứng từ, phương thức TDCT  đã thực sự trở thành một công cụ đắc lực cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, góp phần không nhỏ thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà phương pháp TDCT mang lại, các ngân hàng, người xuất khẩu và nhập khẩu cũng đối mặt với không ít các rủi ro khi thanh toán bằng phương thức này. Trước ngưỡng cửa của sự đổi mới và hội nhập, việc hạn chế thậm chí không thể để ra sai sót trong thanh toán quốc tế là một yêu cầu hết sức đúng đắn và thiết thực. Chính vì vậy, bản sửa đổi UCP 600 ra đời được áp dụng từ 1/7/2007 đã và sẽ giúp ích rất nhiều cho các ngân hàng TM, người xuất khẩu nhập khẩu và các cơ quan chức năng trong lĩnh vực TDCT để có thể  đứng vững và cạnh tranh được trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện  nay.

 


64 phản hồi

  1. Anh Hai oi,anh co the gui cho em noi dung cua ucp600(39 dieu) duoc khong.Do em tim ma khong co.cam on anh nhieu nha!Diia chi mail cua em la:hanh.huynh9192@yahoo.com

  2. có thể cho mình biết nội dung điều 13 trong UCP 600 ko?

  3. E dang lam bai thuyet trinh ve dac tinh cua van don duong bien ma e doc hoai cung ko thay ro dcquy trinh cua 1 van don trong thuc te nhu the nao. Anh chi nao biet giup e voi. Thanks

    • Vận đơn đường biển-Ocean bill of Lading là chứng từ chuyên chở hàng hoá bằng đường biển- transport documents do người có chức năng ký phát( người chuyên chở hoặc đại diện của người chuyên chở) phát hành cho người gửi hàng sau khi hàng hoá đã được xếp lên tàu (FOB) hoặc sau khi nhận hàng để xếp(FAS).

      Các chức năng của vận đơn đường biển:

      Theo điều 73 Luật hàng hải, vận đơn có 3 chức năng chính sau đây:

      Thứ nhất, vận đơn là “bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận lên tàu số hàng hoá với số lượng, chủng loại, tình trạng như ghi rõ trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng”. Thực hiện chức năng này, vận đơn là biên lai nhận hàng của người chuyên chở(người vận chuyển) cấp cho(phát hành cho) người xếp hàng (người giao hàng-người gửi hàng). Nếu không có ghi chú gì trên vận đơn thì những hàng hoá ghi trong đó đương nhiên được thừa nhận có “Tình trạng bên ngoài thích hợp” (In apperent good order and condition). Điều này cũng có nghĩa là người bán (người xuất khẩu) đã giao hàng cho người mua (người nhập khẩu) thông qua người chuyên chở và người chuyên chở nhận hàng hoá như thế nào thì phải giao cho người cầm vận đơn gốc một cách hợp pháp như đã ghi trên vận đơn ở cảng dỡ hàng (cảng đích).Nghĩa vụ của người chuyên chở được quy định tại điều 57-LHH
      Thứ hai, “vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng để định đoạt và nhận hàng” hay nói đơn giản hơn vận đơn là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hoá ghi trong vận đơn. Vì vậy, vận đơn có thể mua bán, chuyển nhượng được. Việc mua bán, chuyển nhượng có thể được thực hiện nhiều lần trước khi hàng hoá được giao. Cứ mỗi lần chuyển nhượng như vậy, người cầm vận đơn gốc trong tay là chủ của hàng hoá ghi trong vận đơn, có quyền đòi người chuyên chở giao hàng cho mình theo điều kiện đã quy định trong vận đơn tại cảng đến.
      Thứ ba, vận đơn đường biển là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển đã được ký kết giữa người gửi hàng và người chuyên chở.(Lưu ý: chỉ là bằng chứng chứ k phải là hợp đồng chuyên chở vì chỉ có 1 chữ ký của người chuyên chở)

      Trong trường hợp thuê tàu chuyến, trước khi cấp vận đơn đường biển, người thuê tàu và người cho thuê tàu đã ký kết với nhau một hợp đồng thuê tàu chuyến (charter party). Khi hàng hoá được xếp hay được nhận để xếp lên tàu, người chuyên chở cấp cho người gửi hàng vận đơn đường biển. Vận đơn được cấp xác nhận hợp đồng vận tải đã được ký kết.
      Trong trường hợp thuê tàu chợ thì không có sự ký kết trước một hợp đồng thuê tàu như thuê tàu chuyến mà chỉ có sự cam kết (từ phía tàu hay người chuyên chở) sẽ dành chỗ xếp hàng cho người thuê tâù. Sự cam kết này được ghi thành một văn bản, gọi là giấy lưu cước (booking note). Vậy vận đơn được cấp là bằng chứng duy nhất xác nhận hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển đã được ký kết. Nội dung của vận đơn là cơ sở pháp lý để giải quyết mọi tranh chấp xảy ra sau này giữa người phát hành và người cầm giữ vận đơn.

      Tác dụng của vận đơn:
      Vận đơn đường biển có những tác dụng chủ yếu sau đây:
      * Thứ nhất, vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người xếp hàng, nhận hàng và người chuyên chở.
      * Thứ hai, vận đơn là căn cứ để khai hải quan và làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá.
      * Thứ ba, vận đơn là căn cứ để nhận hàng và xác định số lượng hàng hoá người bán gửi cho người mua và dựa vào đó để ghi sổ, thống kê, theo dõi xem người bán (người chuyên chở) đã hoặc không hoàn thành trách nhiệm của mình như quy định trong hợp đồng mua bán ngoại thương (vận đơn).
      * Thứ tư, vận đơn cùng các chứng từ khác của hàng hoá lập thành bộ chứng từ thanh toán tiền hàng.
      * Thứ năm, vận đơn là chứng từ quan trọng trong bộ chứng từ khiếu nại người bảo hiểm, hay những người khác có liên quan.
      * Thứ sáu, vận đơn còn được sử dụng làm chứng từ để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng hàng hoá ghi trên vận đơn…

      Phân loại vận đơn(Nhận biết vận đơn):
      Vận đơn đường biển rất đa dạng, phong phú, được sử dụng vào những công việc khác nhau tuý theo nội dung thể hiện trên vận đơn. Trong thực tiễn buôn bán quốc tế, có rất nhiều căn cứ để phân loại vận đơn, cụ thể như sau:
      - Nếu căn cứ vào tình trạng xếp dỡ hàng hoá thì vận đơn được chia thành 2 loại: vận đơn đã xếp hàng (shipped on board bill of lading) và vận đơn nhận hàng để xếp (received for shipment bill of lading).
      - Nếu căn cứ vào quyền chuyển nhượng sở hữu hàng hoá ghi trên vận đơn( căn cứ vào tính chất lưu thông) thì vận đơn lại được chia thành 3 loại: vận đơn đích danh (straight bill of lading), vận đơn vô danh hay còn gọi là vận đơn xuất trình (bill of lading to bearer) và vận đơn theo lệnh (bill of lading to order of…).
      - Nếu căn cứ vào phê chú của thuyền trưởng trên vận đơn, người ta lại có vận đơn hoàn hảo (Clean bill of lading) và vận đơn không hoàn hảo (unclean of lading).
      - Nếu căn cứ vào hành trình của hàng hoá thì vận đơn lại được chia thành: vận đơn đi thẳng (direct bill of lading), vận đơn chở suốt (through bill of lading) và vận đơn vận tải liên hợp hay vận đơn đa phương thức (combined transport bill of lading or multimodal transport bill of lading).
      - Nếu căn cứ vào phương thức thuê tàu chuyên chở lại có vận đơn tàu chợ (liner bill of lading) và vận đơn tàu chuyến (voyage – Nếu căn cứ vào giá trị sử dụng và lưu thông ta có vận đơn gốc (original bill of lading) và vận đơn copy (copy of lading).
      Ngoài ra còn có Surrendered B/L Seaway bill, Congen bill… Tuy nhiên theo Bộ luật hàng hải Việt nam vận đơn được ký phát dưới 3 dạng: vận đơn đích danh, vận đơn theo lệnh, vận đơn xuất trình.

      Nội dung của vận đơn
      Vận đơn có nhiều loại do nhiều hãng tàu phát hành nên nội dung vận đơn cũng khác nhau. Vận đơn được in thành mẫu, thường gồm 2 mặt, có nội dung chủ yếu như sau:
      * Mặt thứ nhất thường gồm những nội dung:
      -Tiêu đề vận đơn
      - Số vận đơn (number of bill of lading)
      -Tên công ty vận tải biển (Shipping company)
      - Người gửi hàng (shipper=consignor)
      - Người nhận hàng (consignee)
      - Địa chỉ thông báo (notify address)
      - Chủ tàu (shipowner)
      - Cờ tàu (flag)
      - Tên tàu (Marine vessel hay name of ship)
      - Cảng xếp hàng (port of loading)
      - Cảng chuyển tải (via or transhipment port)
      - Nơi giao hàng (place of delivery)
      - Tên hàng (name of goods)
      - Kỹ mã hiệu (marks and numbers)
      - Cách đóng gói và mô tả hàng hoá (kind of packages and discriptions of goods)
      - Số kiện (number of packages)
      - Trọng lượng toàn bộ hay thể tích (total weight or mesurement)
      - Cước phí và chi chí (freight and charges)
      - Số bản vận đơn gốc (number of original bill of lading)
      - Thời gian và địa điểm cấp vận đơn (place and date of issue)
      - Chữ ký của người vận tải (thườnglà master’s signature)
      Nội dung cuả mặt trước vận đơn do người xếp hàng điền vào trên cơ sở số liệu trên biên lai thuyền phó.
      * Mặt thứ hai của vận đơn
      Gồm những quy định có liên quan đến vận chuyển do hãng tàu in sẵn, người thuê tàu không có quyền bổ sung hay sửa đổi mà mặc nhiên phải chấp nhận nó. Mặt sau thường gồm các nội dung như các định nghĩa, điều khoản chung, điều khoản trách nhiệm của người chuyên chở, điều khoản xếp dỡ và giao nhận, điều khoản cước phí và phụ phí, điều khoản giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở, điều khoản miễn trách của người chuyên chở…
      Mặt hai của vận đơn mặc dù là các điều khoản do các hãng tàu tự ý quy định, nhưng thường nội dung của nó phù hợp với quy định của các công ước, tập quán quốc tế vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
      Qui tắc quốc tế điều chỉnh vận đơn đường biển
      Hiện nay có 2 nguồn luật quốc tế chính về vận tải biển, đó là:
      - Công ước quốc tế để thống nhất một số thể lệ về vận đơn đường biển, gọi tắt là Công ước Brussels 1924 và hai Nghị định thử sửa đổi Công ước Brussels 1924 là : + Nghị định thư sửa đổi Công ước Brussels 1924 gọi tắt là nghị định thư 1968. (Visby Rules – 1968) Nghị định thư năm 1978
      - Công ước của Liên hợp quốc về vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, gọi tắt là Công ước Hamburg 1978.

      Những lưu ý khi sử dụng vận đơn đường biển
      Vận đơn đường biển là một chứng từ quan trọng trong giao nhận vận chuyển, bảo hiểm, thanh toán và khiếu nại (nếu có). Trong thực tiễn sử dụng vận đơn phát sinh nhiều tranh chấp gây ảnh hưởng đến các bên liên quan do các bên chưa thực sự hiểu hoặc có những cách hiểu khác nhau về giá trị pháp lý của vận đơn, về nội dung và hình thức của vận đơn… Vì vậy khi lập và sử dụng vận đơn cần lưu ý những điểm sau đây:
      * Giá trị pháp lý của vận đơn:
      Theo thông lệ Hàng hải Quốc tế (công ước Brussels 1924, điều 1 khoản b) và Bộ luật Hàng hải Việt nam thì vận đơn là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người nhận hàng và người chuyên chở. Khi xảy ra thiếu hụt, hư hỏng, tổn thất…. đôí với hàng hoá ở cảng đến thì người nhận hàng phải đứng ra giải quyết với người chuyên chở căn cứ vào vận đơn. Trên lý thuyết thì như vậy nhưng trong thực tế có rất nhiều tranh chấp phát sinh xung quanh vấn đề này. Cụ thể là:
      Trong thương mại hàng hải quốc tế thường lưu hành phổ biến 2 loại vận đơn: vận đơn loại thông thường (gọi là Conline bill) và vận đơn cấp theo hợp đồng thuê tàu (gọi là Congen bill). Điểm khác nhau cơ bản của 2 loại vận đơn này là: Conline bill chức đầy đủ mọi quy định để điều chỉnh quan hệ giữa người nhận hàng và người chuyên chở như phạm vi trách nhiện, miễn trách, thời hiệu tố tụng, nơi giải quyết tranh chấp và luật áp dụng, mức giới hạn bồi thường, các quy định về chuyển tải, giải quyết tổn thất chung, những trường hợp bất khả kháng…. Thông thường loại vận đơn này có đầy đủ 3 chức năng như Bộ luật Hàng hải Việt nam quy định.
      Ngược lại, Congen bill được cấp phát theo một hợp đồng thuê tàu chuyến nào đó. Loại này thường chỉ có chức năng là một biên nhận của người chuyên chở xác nhận đã nhận lên tàu số hàng hoá được thuê chở như đã ghi trên đó. Nội dung của loại vận đơn này rất ngắn gòn và bao giờ cũng phải ghi rõ: phải sử dụng cùng với hợp đồng thuê tàu (to be used with charter parties). Ngoài ra trong vận đơn loại này bao giờ cũng có câu: mọi điều khoản, mọi quy định miễn trách nhiệm cho người chuyên chở đã ghi trong hợp đồng thuê tàu kể cả các điều khoản luật áp dụng và trọng tài phải được áp dụng cho vận đơn (All terms and conditions, leberties and exceptions of the charter party, dated as overleaf, including the law and abitration clause, are herewwith incorporated).
      Trong trường hợp xảy ra mất mát. hư hỏng, thiếu hụt hoặc chậm giao hàng… ở cảng dỡ hàng thì chỉ phải sử dụng vận đơn để giải quyết tranh chấp (nếu là Conline bill), nhưng sẽ phải sử dụng cả vận đơn và hợp đồng thuê tàu (nếu là Congen bill). ở đây có thể xảy ra khả năng có mâu thuẫn giữa quy định của vận đơn và quy định trong hợp đồng thuê tàu. Lúc này ưu tiên áp dụng những quy định của vận đơn để giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp cả vận đơn và hợp đồng đều không có quy định gì (khả năng thứ 2) thì áp dụng luật do vận đơn chỉ ra trước, luật do hợp đồng chỉ ra sau nhưng phải xét đến các mối quan hệ liên quan. Vấn đề là ở chỗ các doanh nghiệp Việt nam hay mua hàng theo điều kiện CIF hoặc C&F thì hợp đồng thuê tàu do người bán ký với chủ tàu, người mua (người nhận hàng) Việt nam khó lòng biết được. Để hạ giá bán, thường là bằng cách hạ giá cước (phần F trong giá C&F vàCIF) người bán hàng nước ngoài sẵn sàng chấp nhận những quy định khắt khe của chủ tàu, k? cỏ các quy định về luật áp dụng và trọng tài. Có khi họ thuê cả những tàu già, cũ, rách nát hay hỏng hóc. Nếu có hư hỏng mất mát thiệt hại về hàng hoá thì việc khiếu nại chủ tàu rất khó khăn vì người mua hàng không có hợp đồng thuê tàu trong tay hoặc có những hợp đồng toàn những quy định bất lợi cho người mua hàng. Đôi khi lấy được hợp đồng thuê tàu từ người bán thì thời hiệu tố tụng không còn nữa hoặc hợp đồng quy định tranh chấp (nếu có) sẽ xét xử theo luật Anh và ở trọng tài hàng hải London…. Những quy dịnh này hết sức bất lợi cho người mua Việt Nam.
      * Vận đơn là loại vận đơn chủ (Master bill of lading) hay vận đơn nhà (house bill lading).
      Vận đơn chủ hay vận đơn đường biển là vận đơn do người chuyên chở chính thức (effective carrier) phát hành còn vận đơn nhà hay vận đơn thứ cấp do người chuyên chở không chính thức (contracting carrier) hay còn gọi là người giao nhận phát hành trên cơ sở vận đơn chủ. Đây là cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ giao nhận kho vận với khách hàng.
      Muốn phân biệt một vận đơn là Master bill hay House bill phải căn cứ vào nội dung và hình thức cuả vận đơn.
      Thứ nhất, vận đơn đường biển thường có dẫn chiếu một số công ước quốc tế phổ biến như Hague Rules, Hague Visby Rules hoặc Hamburge Rules. Ngược lại, trên thế giới không có một công ước nào điều chỉnh vận đơn thứ cấp.
      Thứ hai, vận đơn đường biển chỉ quy định các quyền và nghĩa vụ người vận tải biển liên quan tới việc bốc xếp, chuyên chở, dỡ hàng và trả hàng phát sinh từ hợp đồng thuê tàu. Ngược lại vận đơn thứ cấp còn chứa đựng những quy định pháp lý về chuyên chở bằng đường bộ, đường sông, đường sắt. Vì vậy, không gian pháp lý của vận đơn thứ cấp rộng hơn vận đơn đường biển.
      Thứ ba, trong vận đơn thứ cấp thường ghi địa điểm nhận hàng để chở (place of receip) và địa điểm trả hàng (place of delivery) chứ không đơn thuần cảng bốc hàng và cảng dỡ hàng.
      Thứ tư, vận đơn đường biển bao giờ cũng ghi rõ: đã bốc hàng lên tàu (shipped on board) hoặc đã nhận để bốc lên tàu (received for shipment). Ngược lại, vận đơn thứ cấp thường ghi: nhận để vận chuyển (taken in charge for transport) vì có thể chở bằng đường biển, đường sông, đường bộ…
      Thứ năm, trong vận đơn đường biển, người gửi hàng gọi là shipper còn trong vận đơn thứ cấp, người gửi hàng gọi là congignor. Trong vận đơn đường biển luôn ghi người nhận hàng (consignee) hoặc đích danh hoặc theo lệnh nhưng trong vận đơn thứ cấp luôn ghi là: hàng được giao nhận theo lệnh (consigned to order of….)
      Thứ sáu, vận đơn đường biển luôn có chức năng là chứng từ nhận quyền định đoạt hàng hoá nhưng với vận đơn thứ cấp, tính chất này có hay không do hai bên thoả thuận khi phát hành.
      Thú bảy, người chuyên chở đường biển không chịu trách nhiệm về hàng đến chậm nhưng người giao nhận lại phải chịu trách nhiệm về việc này.Có khi họ phải đến gấp đôI số tiền cước cho thiệt hại do giao hàng chậm.
      Thứ tám, thời hiệu khiếu nại trong vận đơn đường biển là 1 năm, trong khi đó ở vận đơn thứ cấp chỉ là 9 tháng. Số thời gian chênh lệch là dành cho người giao nhận khiếu nại lại người vận tải chính thức.
      Thứ chín, vận đơn đường biển chỉ cần 1 con dấu và 1 chữ ký vì nó chỉ được cấp sau khi hàng đã bốc lên tàu. Trong khi đó, vận đơn thứ cấp do được phát hành khi nhận hàng để chở nên phải có thêm 1 con dấu và 1 chữ ký nữa xác nhận rằng hàng đã được bốc lên tàu (ngày cấp vận đơn thứ cấp và ngày bốc hàng có thể khác nhau).
      Tuy nhiên trong thức tế sự phân biệt giữa 2 loại vận đơn này chỉ là tương đối. Điều quan trọng là khi có một vận đơn trong tay phải xem xét xem nó là loại gì và ai là người phát hành để khi có tổn thất có thể giải quyết kịp thời, đúng đối tượng.
      Do House Bill là vận đơn do người giao nhận cấp (freight forwader), khi họ cung cấp dịch vụ gom hàng trong vận tải đường biển cung như vận tải hàng không. Vận đơn này chưa được Phòng Thương mại quốc tế thông qua và người cấp thông thường không là người chuyên chở thực sự (người kinh doanh vận tải không có tàu). Vì vậy trong nhiều trường hợp nó không đáp ứng yêu cầu của L/C, nên nó có xu hướng bị thay thế bằng FBL (FIATA bill of lading) và Neutral Air waybill (trong vận tải hàng không)…
      * Nội dung và hình thức của vận đơn
      - Về nội dung:
      + Mục số lượng, trọng lượng, bao bì, ký mã hiệu mô tả hàng hoá phải ghi phù hợp với số lượng hàng thực tế xếp lên tàu và phải ghi thật chính xác.
      Khi nhận hàng theo vận đơn, phải lưu ý số hàng thực nhận so với số hàng ghi trong vận đơn, nếu thấy thiếu, sai hoặc tổn thất thì phải yêu cầu giám định để khiếu nại ngay. Nếu tổn thất không rõ rệt thì phải yêu cầu giám định trong 3 ngày kể từ ngày dỡ hàng.
      + Mục người nhận hàng: Nếu là vận đơn đích danh thì phải ghi rõ họ tên và địa chỉ người nhận hàng, nếu là vận đơn theo lệnh thì phải ghi rõ theo lệnh của ai (ngân hàng, người xếp hàng hau người nhận hàng). Nói chung, mục này ta nên ghi theo yêu cầu của thư tín dụng (L/C) nếu áp dụng thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
      + Mục địa chỉ người thông báo: Nếu L/C yêu cầu thì ghi theo yêu cầu của L/C, nếu không thì để trống hay ghi địa chỉ của người nhận hàng.
      + Mục cước phí và phụ phí: phải lưu ý đến đơn vị tính cước và tổng số tiền cước.
      Nếu cước trả trước ghi: “Freight prepaid”
      Nếu cước trả sau ghi: “Freight to collect hay Freight payable at destination”. Có khi trên vận đơn ghi : “Freight prepaid as arranged” vì người chuyên chở không muốn tiết lộ mức cước của mình.
      + Mục ngày ký vận đơn: Ngày ký vận đơn thường là ngày hoàn thành việc bốc hàng hoá lên tàu và phải trong thời hạn hiệu lực của L/C.
      + Mục chữ ký vận đơn: Chữ ký trên vận đơn có thể là trưởng hãng tàu, đại lý của hãng tàu.
      Khi đại lý ký thì phải ghi rõ hay đóng dấu trên vận đơn “chỉ là đại lý (as agent only)”.
      - Về hình thức
      Hình thức của vận đơn do các hãng tự lựa chọn và phát hành để sử dụng trong kinh doanh. Vì vậy, mỗi hãng khác nhau phát hành vận đơn có hình thức khác nhau. Tuy nhiên hình thức phát hành không quyết định giá trị pháp lý của vận đơn.
      Những hình thức thể hiện của vận đơn:
      Hình thức phổ biến nhất là loại vận đơn đường biển thông thường, chỉ sử dụng trong chuyên chở hàng hoá bằng đường biển (trên vận đơn chỉ ghi “Bill of lading”. Loại vận đơn này là loại vận đơn truyền thống đang dần được thay thế bởi loại vận đơn phát hành dùng cho nhiều mục đích, nhiều phương thức chuyên chở. Đó là:
      - Loại vận đơn dùng cho cả vận tải đơn phương thức và đa phương thức: trên vận đơn ghi: “bill of lading for combined transport shipment or port shipment”. Loại chứng từ này được hiểu là vận đơn đường biển và có thể chuyển nhượng được trừ phi người phát hành đánh dấu vào ô “Seaway bill, non negotiable”.
      - Vận đơn dùng cho cả lưu thông và không lưu thông: “bill of lading not negotiable unless consigned to order” (vận đơn này không chuyển nhượng được trừ phi phát hành theo lệnh)….
      Như vậy nhìn vào hình thức vận đơn chúng ta không biết đươc nó là loại nào, giá trị pháp lý như thế nào. Muốn xác định cụ thể ta lại phải xem xét đến các nội dung thể hiện trên vận đơn.
      Giấy gửi hàng đường biển (seaway bill)
      Vận đơn là một trong những chứng từ quan trọng nhất của mua bán quốc tế khi hàng hoá được vận chuyển bằng đường biển. Tuy vậy, dần dần vận đơn đã bộc lộ nhiều nhược điểm như:
      - Thứ nhất, nhiều khi hàng hoá đã đến cảng dỡ hàng nhưng người nhận không có vận đơn (B/L) để nhận hàng vì thời gian hành trình của hàng hoá trên biển ngắn hơn thời gian gửi bill từ cảng xếp hàng đến cảng dỡ hàng.
      - Thứ hai, B/L không thích hợp với việc áp dụng các phương tiện truyền số liệu hiện đại tự động (fax, teleax…) bởi việc sử dụng B/L trong thanh toán, nhận hàng…. đòi hỏi phải có chứng từ gốc.
      - Thứ ba, việc in ấn B/L đòi hỏi nhiều công sức và tốn kém bởi chữ in mặt sau của B/L thường rất nhỏ, khoảng 0,3mm để chống làm giả.
      - Thứ tư, việc sử dụng B/L có thể gặp rủi ro trong việc giao nhận hàng hoá (nếu đơn vị bị mất cắp) vì B/L là chứng từ sở hữu hàng hoá….
      Như vậy một loại chứng từ mới có thể thay thế được cho B/L và có chức năng tương tự như B/L đã ra đời. Đó là giấy gửi hàng đường biển (seaway bill). Sử dụng seaway bill có thể khắc phục được những tồn tại đã phát sinh của B/L.
      Thứ nhất, khi sử dụng seaway bill người nhận hàng có thể nhận được hàng hoá ngày khi tàu đến cảng dỡ hàng hoá mà không nhất thiết phải xuất trình vận đơn đường biển gốc vì seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá. Hàng hoá sẽ được người chuyên chở giao cho người nhận hàng trên cơ sở những điều kiện của người chuyên chở hoặc một tổ chức quản lý hàng hoá tại cảng đến.
      Thứ hai, seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá, do đó người ta không nhất thiết phải gửi ngay bản gốc cho người nhận hàng ở cảng đến mà có thể gửi bản sao qua hệ thống truyền số liệu tự động. Như vậy đồng thời với việc xếp hàng lên tàu, người xuất khẩu có thể gửi ngày lập tức seaway bill cho người nhận hàng trong vòng vài phút. Người nhận hàng cũng như người chuyên chở không phải lo lắng khi giao nhận mà không có chứng từ.
      Thứ ba, khi sử dụng seaway bill, việc in các điều khoản bằng chữ rất nhỏ ở mặt sau được thay thế bằng việc dẫn chiếu đến các điều kiện, quy định liên quan đến vận chuyển ở mặt trước bằng một điều khoản ngắn gọn. Mặt khác người chuyên chở chỉ cần phát hành 1 bản gốc seaway bill trong khi phải phát hành tối thiểu 1 bộ 3 bản gốc nếu sử dụng B/L.
      Thứ tư, seaway bill cho phép giao hàng cho một người duy nhất khi họ chứng minh họ là người nhận hàng hợp pháp. Điều này giúp cho các bên hữu quan hạn chế được rất nhiều rủi ro trong việc giao nhận hàng, không những thế, vì seaway bill không phải là chứng từ sở hữu hàng hoá nên khi bị mất hay thất lạc thì cũng không ra hậu quả nghiêm trọng nào.
      Tuy nhiên, seaway bill không phải là không có những hạn chế như seaway bill cản trở mua bán quốc tế (vì seaway bill là rất phức tạp và khó khăn khi người chuyên chở và người nhận hàng là những người xa lạ, mang quốc tịch khác nhau; luật quốc gia của một số nước và công ước quốc tế chưa thừa nhận seaway bill như một chứng từ giao nhận hàng….
      Ở Việt nam, việc áp dụng seaway bill vận còn rất mới mẻ, mặc dù đã có cơ sở pháp lý để áp dụng seaway bill. Mục C – điều…. Bộ luật Hàng hải Việt nam quy định. Người vận chuyển và người giao nhận hàng có thể thoả thuận việc thay thế B/L bằng giấy gửi hàng hoặc chứng từ vận chuyển hàng hoá tương đương và thoả thuận về nội dụng, giá trị của các chứng từ này theo tập quán Hàng hải quốc tế.

      Switch B/L la gi?
      Switch B/L không phải là một dạng vận đơn mà đó chỉ là một thuật ngữ về cách sử dụng vận đơn bằng cách chuyển đổi từ bộ vận đơn này thành bộ vận đơn khác theo yêu cầu của Người gửi và Người nhận hàng.

      Việc switch B/L này thường được sử dụng trong các trường hợp mua bán tay ba ” Cross trade” hay còn gọi là “Triangle” nhằm mục đích thuận lợi cho việc thanh toán tiền hàng, che giấu xuất xứ hàng hoá, che giấu người bán hàng (thường là nhà sản xuất), đôi khi nó còn được dùng vào việc tránh thuế, hoặc tìm cách giảm thuế với hàng hoá xuất khẩu và hàng hoá nhập khẩu cũng như các qui định khác của các quốc gia mà hàng được luân chuyển.

      Để cụ thể hoá việc Switch B/L tôi xin đưa ra một vài ví dụ cụ thể như sau :

      - A : Người bán hàng / Shipper: Nguời này là nhà sản xuất và bán cho nhà buôn trung gian tại Singapore
      - B : Nhà buôn / Trader : Nhà buôn này lại bán hàng cho Nguời mua tại Châu Âu
      - C : Nguời mua hàng / Consignee : Người này sẽ nhận hàng ở Châu Âu

      1. Tránh lộ thông tin về người bán hàng :
      Hàng sẽ được vận chuyển trực tiếp bẳng container đường biển từ quốc gia mà nhà sản xuất đến địa điểm giao hàng tại Châu Âu nhưng để tránh cho Người mua hàng cuối cùng tại Châu Âu biết về nguồn gốc hàng hoá và đề phòng việc người mua hàng cuối cùng sẽ liên lạc với nhà sản xuất để mua hàng trực tiếp thì Nhà buôn trung gian yêu cầu hãng tàu đổi bộ vận đơn khác cho mình và trong đó có thay đổi một số thông tin như cảng xếp hàng, tên shipper,….

      2. Thuận tiện cho việc thanh toán :
      Nhà buôn trung gian thanh toán cho Người bán hàng và Người mua cuối cùng thanh toán cho Nhà buôn trung gian vì vậy phải có ít nhất 2 bộ vận đơn mới thanh toán được (đặc biệt là việc thanh toán sử dụng phương thức L/C) nhưng trong thực tiễn thì hãng tàu chỉ có thể chấp nhận phát hành đồng thời một lúc 1 bộ vận đơn duy nhất mà thôi. Vì vậy, phải dùng biện pháp switch B/L có nghĩa là sau khi Nhà buôn trung gian đã thanh toán tiền hàng cho Người bán hàng thì Nhà buôn này sẽ có được bộ vận đơn trong tay và giao nộp bộ vận đơn này cho hãng tàu rồi yêu cầu hãng tàu đổi sang (switch) bộ vận đơn khác với tên Shipper và tên Consignee khác để dùng nó thanh toán với Người mua hàng ở Châu Âu.

      3. Giảm thuế và các qui định khác :
      Trong nhiều trường hợp do các chính sách về thuế và các qui định khác của các quốc gia, Người mua hàng và Người bán hàng phải tìm cách “lách luật” bằng biện pháp switch B/. Ví như hàng của quốc gia A khi bán vào quốc gia C sẽ bị đánh thuế với thuế xuất cao nhưng hàng của quốc gia B bán cho quốc gia C thì lại được ưu đãi về thuế quan nên nhiều khi Người bán và Người mua hàng thường sử dụng cách này để giảm thuế. Đây là cách switch B/L không chính thức nhưng có thể lại là phương pháp mà nhiều người muốn sử dụng nhất.

      Trên đây chỉ là ví dụ minh họa về thế nào thì được gọi là switch B/L và người ta dùng switch B/L để làm gì. Ngoài các ví dụ ở trên thì có thể sẽ còn nhiều phương thức khác tuỳ theo yêu cầu của mỗi người nhưng một điểm rất chú ý là việc sử dụng switch B/L có thể là hành vi vi phạm pháp luật và nhất thiết phải được đồng ý của hãng tàu (Shippping line) nếu sử dụng Master B/L và của đại lý giao nhận (Freight Forwader) vì họ có thể không chấp nhận switch B/L để tránh rủi ro cho mình.

      Charter Party Bill of Lading ?

      Theo cách hiểu thông thường, một vận đơn ký phát theo hợp đồng thuê tàu (C/P Bill of Lading) là loại vận đơn mà trong nội dung của nó có tham chiếu đến các điều khoản nằm trong một hợp đồng thuê tàu nào đó. Do đó, nó không sử dụng độc lập được mà phải đi kèm với hợp đồng thuê tàu mà nó dẫn chiếu. Một số cụm từ thể hiện sự tham chiếu trong vận đơn này, thí dụ: “All terms and conditions as per charter party” hoặc ” To be used with charter party”.
      Vận đơn Congenbill của BIMCO sử dụng phổ biến trong phương thức tàu chuyến là dạng tiêu biểu của Charter Party Bill of Lading.

      Dưới góc độ pháp lý, sử dụng một vận đơn C/P độc lập (không kèm theo hợp đồng thuê tàu) sẽ phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến việc xác định chính xác người vận chuyển là chủ tàu đích thực hay chủ tàu danh nghĩa, và trách nhiệm của các bên liên quan theo vận đơn đặc biệt khi nội dung/trách nhiệm trong hợp đồng thuê tàu có khác biệt (mẫu thuẫn) với nội dung/trách nhiệm theo vận đơn. Tình huống này thường xảy ra khi chủ tàu đích thực cho thuê định hạn và người thuê định hạn (chủ tàu danh nghĩa) cho bên thứ ba thuê lại dưới hình thức tàu chuyến. Vận đơn tàu chuyến do chủ tàu danh nghĩa phát hành. Giả sử, chủ tàu danh nghĩa vì lý do nào đó không thanh toán đủ tiền thuê tàu khiến chủ tàu thực phải cầm giữ hàng hoá vận chuyển trên tàu để đòi nợ theo đúng hợp đồng time charter, thì chủ hàng (người cầm giữ vận đơn gốc) khó có thể mang Charter Party Bill of Lading gốc ra đòi hàng mặc dù vận đơn ghi “freight prepaid”. Đây là lý do khiến các L/C thường ít chấp nhận loại vận đơn này vì e ngại rủi ro.

      “Charter party B/L is acceptable” nghĩa là hợp đồng mua bán chấp nhận cả “charter party B/L”, khi đó ngân hàng lúc xem xét bộ chứng từ sẽ không loại trừ vận đơn dạng này, nhờ đó giảm thiểu lỗi bộ chứng từ không phù hợp với L/C. Tuy nhiên, nếu không cẩn thận, rủi ro cho phía mua hàng bắt nguồn từ việc đồng ý loại vận đơn này là không nhỏ. Do vậy, cần tham khảo thêm phần quy định sau đây của UCP600 liên quan đến dạng vận đơn này

      Cấp lại một bộ vận đơn ?
      Hỏi: Người giao hàng (người gửi hàng, người cầm giữ vận đơn) bị mất (hay thất lạc) vận đơn và đề nghị người vận chuyển (chủ tàu) cấp lại một bộ vận đơn mới thì thủ tục cấp lại như thế nào và cần lưu ý những gì để vừa an toàn cho người cấp vừa giúp được khách hàng?

      Đáp: Như nhiều người đã biết, chức năng quan trọng nhất của vận đơn là “chứng từ về quyền sở hữu” (document of title). Vì vậy, việc cấp lại vận đơn phải được thực hiện rất thận trọng sao cho vừa giúp được người có yêu cầu, vừa tự bảo vệ được mình (chủ tàu, người vận chuyển) một cách tốt nhất.

      Đề nghị cấp lại vận đơn có thể được gửi trực tiếp cho người vận chuyển/chủ tàu, nhưng phần nhiều là thông qua đại lý. Không có thủ tục chung cho việc cấp lại vận đơn. Mỗi hãng tàu, người vận chuyển có quy định riêng về việc này và căn cứ vào từng trường hợp cụ thể (mức độ tín nhiệm của khách hàng, giá trị của lô hàng…) mà giải quyết cho phù hợp.

      Dưới đây xin giới thiệu một số yêu cầu mà đại lý/người vận chuyển/chủ tàu cần lưu ý khi cấp lại vận đơn để bạn đọc tham khảo.

      1. Khi nhận được văn bản đề nghị cấp lại vận đơn, đại lý báo ngay cho người vận chuyển/chủ tàu kèm theo toàn văn nội dung đơn đề nghị đó.

      2. Tìm hiểu xem lô hàng đang ở đâu (trên đường vận chuyển, đang ở trong kho…) và đã được trả cho người nhận hàng chưa.

      3. Nếu hàng đã được trả cho người nhận, thì từ chối đơn đề nghị cấp lại vận đơn. Nếu hàng chưa được trả cho người nhận, thì thông báo và chuyển nội dung đơn đó cho đại lý tại cảng nhận hàng/cảng trả hàng và yêu cầu họ (đại lý) thông báo sự việc cho các bên liên quan.

      4. Yêu cầu người đề nghị cấp lại vận đơn làm các thủ tục pháp lý theo quy định ở địa phương của nước sở tại về việc bị mất vận đơn (có nước yêu cầu phải gửi văn bản cho tòa án để tòa ra quyết định về quyền sở hữu của vận đơn, trách nhiệm của người đang giữ vận đơn chính…; có nước yêu cầu làm tờ khai với cơ quan công an, đăng báo, làm bản cam đoan, gửi thông báo cho các bên liên quan…).

      5. Người đề nghị cấp lại vận đơn phải làm thư bảo đảm, cam kết bồi thường thiệt hại do việc xin cấp lại vận đơn (theo mẫu của người vận chuyển/chủ tàu). Có hãng tàu quy định ngoài chữ ký của người đề nghị, còn có chữ ký của người giao hàng, người nhận hàng

      6. Ngoài đơn đề nghị nói trên, phải có thư bảo lãnh của ngân hàng. Thư bảo lãnh có thể làm thành một thư riêng hoặc ngân hàng có thể ký ngay trên thư bảo đảm (của người đề nghị cấp lại vận đơn) cam kết bồi thường với tư cách là người bảo lãnh. Số tiền bảo lãnh, thời gian bảo lãnh tùy theo tính chất vụ việc (ví dụ: có thể không hạn chế về số tiền và thời gian bảo lãnh để đề phòng khiếu kiện kéo dài…).

      7. Kiểm tra tính hợp pháp (giá trị pháp lý) thư bảo lãnh của ngân hàng theo luật, quy định tại địa phương (chức danh ký, bản chính, bản fax, thư điện tử).

      8. Đăng báo địa phương một vài số liên tục (nói rõ hoàn cảnh, thời gian… mất vận đơn, ví dụ như mất sau khi xem triển lãm tại…, ngày…) và đính kèm những bản chụp đăng báo này vào đơn đề nghị.

      9. Những ghi chú sau đây nên ghi lên bộ vận đơn được cấp lại:

      a. “Cấp lại” (re-issued).
      b. “Nếu hàng đã được trả theo bộ vận đơn đã cấp, thì bộ vận đơn được cấp lại này sẽ tự động vô hiệu”.
      c. “Sau khi hàng đã được trả theo bộ vận đơn cấp lại, thì các bản chính của bộ vận đơn (thứ nhất) sẽ bị coi là không còn giá trị”.
      d. “Hàng chỉ được trả theo bộ vận đơn cấp lại này nếu hàng chưa được trả theo bộ vận đơn thứ nhất”.

      10. Sau khi được chủ tàu/người vận chuyển cho phép, đại lý sẽ cấp bộ vận đơn mới và thông báo cho chủ tàu, các đại lý và cơ quan tại các cảng có liên quan để chuẩn bị trả hàng theo bộ vận đơn mới. Tuy vậy, nếu đại lý tại cảng trả hàng (discharging port) nhận được thông báo của đại lý tại cảng nhận hàng (loadingport) rằng vận đơn cấp lại (re-issued B/L) đã được xuất trình cho họ (đại lý tại cảng nhận hàng) nhưng sau đó lại có yêu cầu trả hàng của người giữ bộ vận đơn thứ nhất thì đại lý (tại cảng trả hàng) phải ngừng làm thủ tục trả hàng, thông báo ngay sự việc cho người vận chuyển/chủ tàu và đại lý tại cảng nhận hàng để chờ mệnh lệnh tiếp theo chứ dứt khoát không được trả hàng

  4. anh oi cho em hoi mot chung tu bao hiem nhu the nao duoc coi nhu la hop le trong thanh toan theo phuong thuc l/c?
    anh co the phan tich gip em dieu 28 ucp 600 duoc ko ah? cam on anh

  5. Dear Anh Hải

    Em xin hỏi anh, làm thế nào để đưa điều khoản phạt vào trong L/C được. Em đã gặp trường hợp trong hợp đồng quy định phạt 0.05% cho lần giao hàng muộn, nhưng trong L/C không quy định điều này, nên khi thanh toán không trừ tiền được. Anh có cách nào giúp em được không?. Em cám ơn anh

    • Đúng là L/c ko có qui định phạt, tuy nhiên để tránh rủi ro bạn nên đàm phán thanh toán 5% giá trị hợp đồng sau khi giao hàng. 5% đó có thể thanh toán trong L/c sau khi xuất trình biên bản xác nhận nghĩa vụ hoàn thành trách nhiệm của hợp đồng kèm theo hóa đơn đã chiết khấu khoản phát hợp đồng nếu có

  6. CÓ AI GIÚP MÌNH ĐƯỢC KHÔNG?
    Cty Inter xuất khẩu 1 lô hàng trị giá $80.000 sang Thailand. Sau khi xuất hàng xong, cty đem chứng từ đến NH X ( Việt Nam ) để NH X này chuyển về NH Kasikorn ( Thailand ), NH X cũng chính là NH được Kasikorn chọn để thanh toán cho Cty Inter khi họ xuất trình chứng từ hợp lệ. Sau khi xem xét bộ chứng từ, NH X xác nhận chứng từ hoàn toàn hợp lệ với L/C, và thông báo cho NH phát hành. Bên cạnh đó, do đây là L/C trả ngay nên NH X đã tiến hành thanh toán cho nhà xuất khẩu và tiến hành gửi ngay chứng từ cho NH phát hành để nhận tiền thanh toán. Tuy nhiên, đến ngày thứ 10 NH X vẫn chưa nhận được thanh toán từ NH phát hành, lẽ ra số tiền này đã được thanh toán 5 ngày trước đó.

    NH X đã liên hệ với Kasikorn để thông báo về sự chậm trễ này thì nhận được thông báo, Kasikorn vẫn chưa nhận được bộ chứng từ, và họ cũng thông báo sẽ phạt tiền NH X vì đã gửi chứng từ trễ vi phạm cam kết. NH X cho kiểm tra lại thì phát hiện bộ chứng từ vẫn chưa được gửi đi vẫn còn nằm trong kho lưu. Sau đó, NH X đã cho tiến hành gửi ngay bộ chứng từ sang Thailand. Sau đó 2 ngày, phía Thailand đã thanh toán cho NH X và phạt số tiền $1000.

    NHƯ VẬY THÌ NH X ĐÃ VI PHẠM ĐIỀU NÀO CỦA UCP 600 VẬY????

  7. Xin chào anh Hải! Đọc blog anh, em thấy rất khâm phục và trân trọng sự chia kẻ kiến thức của anh.

    Em đang tìm hiểu về UCP600, có 1 số thắc mắc muốn anh giúp đỡ giải đáp:
    - Khái niệm “Thương lượng thanh toán”: Tại sao lại có “hối phiếu đòi nợ NH khác không phải NH chỉ định”?
    - Tại sao ở điều 8 (cam kết của NH xác nhận) lại có thêm 1 phần so với điều 7 (cam kết của NH phát hành) về “Thương lượng thanh toán miễn truy đòi”? Ý nghĩa của câu này là gì?

    Em cảm ơn anh, rất mong phản hồi của anh.

    Email: halinh1812@gmail.com

  8. Dear anh Hải
    Em học bên khoa quản trị kinh doanh, không rành về ngoại thương lắm.
    Em nhận được 1 đề tài báo cáo của thầy là”các trường hợp vận dụng UCP 600 trong phương thức tín dụng chứng từ”, em không biết phần này phải trình bày những ý chính nào.Mong anh giúp em với

  9. a cho e hỏi. từ chứng từ vận tải đường bộ,sắt,sông . có tình huống nào dính dính điều khoản nội dung của nó. giúp mình hiều sâu thêm ko anh?
    a cho em vài tình huống dc ko a?
    về bất cứ j( ngày ký, ngày giao hàng, bản gốc..) mọi tranh chấp thực tế có dùng chứng từ này để giải quyết
    e cảm ơn a rất nhiều

  10. Dear Trinhntn

    Mục a, điều 7 UCP600 qui định:
    Với điều kiện là các chứng từ qui định được xuất trình tới Ngân hàng chỉ định hoặc tới Ngan hàng phát hành và với điều kiện kiện việc xuất trình là phù hợp, Ngân hàng phát hành phải thanh toán nếu tín dụng có giá trị thanh toán.

    mục b: Ngân hàng phát hành bị ràng buộc không thể huỷ bỏ đối với việc thanh toán kể từ khi ngân hàng đó phát hành tín dụng

    Điều 15a: Khi một Ngân hàng phát hành xác định việc xuất trình là phù hợp, thì nó phải thanh toán

    Trong tình huống trên thì Ngân hàng phát hành phải thanh toán nếu tín dụng có giá trị thanh toán. Không thể huỷ bỏ trách nhiệm thanh toán khi việc xuất trình chứng từ là phù hợp với điều kiện của L/c vậy cần phải làm rõ mấy vấn đề

    Thứ nhất thời hạn hiệu lực của tín dụng thế nào ? nghĩa là tín dụng có giá trị thanh toán

    Thứ hai là Ngân hàng thông báo đã kiểm tra chứng từ và chuyển chứng từ phù hợp đến Ngân hàng phát hành chưa ?
    Vì trách nhiệm của Ngân hàng thông báo là kiểm tra chứng từ của người hưởng lợi nếu thấy phù hợp gửi cho Ngân hàng phát hành và chờ ý kiến phản hồi về sự phù hợp hay không phù hợp của chứng từ xuất trình từ Ngân hàng thông báo.

    Trong tình huống trên Ngân hàng thông báo chưa chuyển chứng từ tới Ngân hàng phát hành mà thông báo lại cho Người hưởng lợi là ngân hàng mở quyết định hủy L/C với lý do người mua sắp phá sản nên không thanh toán cho người bán. Điều này Ngân hàng thông báo đã ko làm đúng trách nhiệm của mình, và việc Ngân hàng phát hành đưa ra thông báo cũng trái với qui định của UCP

    Về phía Ngân hàng phát hành bất luận trong trường hợp nào thì việc thanh toán tín dụng nếu chứng từ xuất trình phù hợp với L/c phải được thực hiện như điều 7 và 15 UCP600 nói trên

  11. Chào anh Hải, em đang làm bài tiểu luận liên quan đến UCP 600, anh có thể giúp em giải quyết tình huống này được không ạ?
    Tình huống là:
    Công ty A ở VN ký hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty B ở Mỹ với 1 số điều kiện sau:
    - Thời hạn giao hàng: 19/4/2010
    - Phương thức thanh toán: L/C (UCP 600)
    - Thời hạn mở L/C: 10/4/2010
    Vào 10/4 người mua ở L/C qua ngân hàng mở, ngân hàng mở chấp nhận mở L/C cho người mua và sau đó thông báo cho ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo thông báo cho người bán về việc người mua đã mở 1 L/C cho người bán theo hợp đồng được ký kết giữa người bán và người mua. Sau khi nhận được thông báo, người bán thực hiện nghĩa vụ giao hàng vào 19/4. Sau khi giao hàng người bán mang toàn bộ chứng từ phù hợp với L/C đến ngân hàng thông báo để thanh toán. Ngân hàng thông báo trả lời rằng: ngân hàng mở quyết địnhu hủy L/C với lý do người mua sắp phá sản nên không thanh toán cho người bán. Hãy giải quyết tình huống trên với tư cách là thẩm phán.
    Em mong anh giúp đỡ em giải quyết tình huống trên. Em xin chân thành cảm ơn.

  12. gửi anh Hải.
    e học môn thanh toán quốc tế chỉ có 45 tiết nên có rất rất nhiều vấn đề chưa hiểu hết. e rất mong anh và các anh chị có thể giúp e với.
    trong D/A có các thời hạn thanh toán trả sau 30 ngày, trả sau 60 ngày và trả sau 90 ngày sau khi giao hàng thì mức rủi ro của các bên trong các trường hợp đó là như thế nào.
    theo e nghĩ hàng đã giao đi rồi nếu người mua có ý định không thanh toán thì thời gian bao lâu có khác gì đâu.
    bạn e thì cho rằng nếu thời gian trả sau càng lâu thì người mua sẽ nhận được hàng và bán hàng cho để lấy tiền sau đó trả hay không thì tùy vào người mua.vậy nên thời gian càng ngắn càng tốt.
    e thấy chưa được rỏ lắm mong anh chị phân tích dùm e và cho ví dụ thì càng tốt.mong tin sớm của anh.

  13. Dear K_Quynh

    Reciprocal L/C (L/c đối ứng) ?

    Là lọai L/C chỉ có hiệu lực khi có 1 L/C khác đối ứng với nó đã được phát hành. L/C này được sử dụng trong giao dịch hàng đổi hàng và gia công hàng xuất khẩu. Cả 2 bên đều là người mua , người bán của nhau. Đặc điểm nổi bật của L/C này là điều khỏan thanh tóan. Trong quy định việc chấp nhận và/hoặc thanh tóan của L/C này chỉ có hiệu lực sau khi ngân hàng phát hành nhận đủ số tiền theo L/C số…ngày..do ngân hàng..phát hành (the acceptance and or payment under this L/C is valid only after our receipt of full proceeds under L/C No…dated issued by…)
    Đơn giản hơn có thể trong 2 L/C này đều ghi chỉ được thanh tóan khi 1 L/C khác đối ứng với nó được mở ra. L/C đối ứng xét về bản chất chỉ là một nửa L/C do sự cam kết có điều kiện của ngân hàng.

    Khác với những L/C thông thường được thanh toán/chấp nhận thanh toán khi chứng từ xuất trình phù hợp, L/C đối ứng là L/C thanh toán có điều kiện, theo đó Ngân hàng Phát hành (NHPH) L/C đối ứng cam kết thanh toán chỉ sau khi nhận được đầy đủ tiền hàng theo L/C khác đối với L/C do NHPH đó phát hành. Điều kiện thanh toán điển hình của L/C đối ứng thường được NHPH quy định tương tự như sau:
    “Đây là L/C đối ứng với L/C số … ngày …. được phát hành bởi Ngân hàng….. Khi nhận được chứng từ phù hợp, chúng tôi (NHPH) sẽ chấp nhận hối phiếu/chứng từ và sẽ thực hiện thanh toán hối phiếu/chứng từ đáo hạn chỉ sau khi nhận được đầy đủ tiền hàng theo L/C số ……….. ngày …… do Ngân hàng ……. phát hành”.

    Ở các nước khac, đã từ lâu không còn sử dụng L/C này , song ở Việt Nam lọai L/C này vẫn còn được sử dụng, đặc biệt trong quan hệ gia công tái xuất, vì nó giúp các nhà kinh doanh VN có thể gia công hàng xuất khẩu mà không cần vốn.

    Ví dụ sau đây có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về L/C đối ứng:

    Shingbang Ltd., Co (Hàn Quốc) ký một hợp đồng gia công hàng may mặc với Garment Company No. 5 (Việt Nam), theo đó Shingbang Ltd., Co mở L/C nhập thành phẩm (Master L/C) cho người hưởng là Garment Company No. 5 và L/C Garment Company No. 5 mở L/C nhập nguyên liệu trả chậm 90 ngày cho người hưởng là Shingbang Ltd., Co.

    Khi nhận được L/C, ví dụ, L/C No. 123 dated 20/2/2008 được phát hàng bởi Korex Bank Seoul, Garment Company No. 5 yêu cầu ngân hàng của mình (Vietcombank Da Nang) phát hành L/C trả chậm (deferred payment L/C) 90 ngày đối ứng với L/C trên cho người hưởng là Shingbang. L/C đối ứng do Vietcombank Da Nang phát hành có thể quy định về điều kiện thanh toán như sau: “This L/C is reciprocal to L/C No. 123 dated 20/4/2008 issued by Korex Bank, Seoul. Upon receipt of the documents complying with the L/C terms, we shall incur a deferred payment undertaking but the payment ưhen due shall be effected only after our full receipt of the proceeds under L/C No. 123 dated 20/4/2008”.

  14. Anh Hải ơi, em đang làm đề tài PTTT L/c đối ứng mà em bí quá anh ơi. Lục tất cả nhà sách, tài liệu trên mạng, mà được có chút xíu thông tin à. Mà ông thày em thì cực kì khó tính và thích hỏi những câu hỏi quái dị, em lo quá, thứ 4 tuần tói là em thuýet trình rồi, anh ơi giúp em với, nếu anh có tài liệu gì thì gởi giúp em theo email: phong_nhi802@zing.vn
    Dù có hay không em cũng cám ơn anh rất nhiều, nhiều thật nhiều

  15. Theo thông lệ giữa Ngân hàng thông báo và Ngân hàng phát hành L/c cần phải có quan hệ đại lý với nhau, và thường bán có quyền lựa chọn Ngân hàng phát hành L/C để tránh rủi ro trong TT LC. Còn Ngân hàng thông báo do người Bán chọn, trách nhiệm liên hệ để có mối quan hệ giao dịch hai NGân hàng phải tự liên hệ với nhau để cung cấp dịch vụ

  16. Bạn Lê Phúc thân mến

    Đọc entry của bạn chắc anh Thanh Hải cũng nghĩ như tôi, tức muốn chết
    Nếu lo nghĩ như bạn thì cách an toàn nhất là đừng bán hàng nữa thì OK, rủi ro về thương mại = 0

    Còn đương nhiên bất kỳ một giao dịch thương mại nào đều có rủi ro, và mức chấp nhận rủi ro/ lợi nhuận như thế nào để chúng ta có thể tham gia vào giao dịch đó

    Phương thức thanh toán = L/C là tương đối an toàn, tuy nhiên nếu là đối tác lần đầu và ko tin tưởng lắm thì bạn nên yêu cầu họ ứng trước khoảng 30%, 70% còn lại thanh toán = L/c. Còn nếu đàm phán được họ ứng trước 100% thì quá an toán rồi, bạn ko phải lo nghĩ đến việc đòi tiền sau khi giao hàng nữa mà chỉ lo thực hiện giao hàng theo tiến độ đã ký. Tuy nhiên họ cũng ko dại gì mà chấp nhận như thế. Mỗi một điều kiện đều có giá của nó, ko ai cho ko ai cái gì.

    Về điều kiện giao hàng nên giao CIF, mình sẽ là người chủ động vận chuyển

    CÒn thuế EXIMBANK trọn gói, Tôi ko hiểu trọn gói cái gì. EXB chỉ là Ngân hàng và họ chỉ làm nghiệp vụ TTQT trong giao dịch của bạn thôi

  17. Chào anh Thanh Hải,
    Mình là bên bán hàng.. Mình chưa có kinh nghiệm về nghiệp vụ ngoại thương nên rất là lo lắng anh Hải à. Gặp được trang web của anh mình mừng quá.
    Mình muốn tìm một phương thức thanh toán an toàn nhất cho bên xuất ngay sau khi xuất hàng sang cho đối tác. Mình chưa biết tình hình tài chính của đối tác ra sao ( do mới hợp tác lần đầu ) , mà bên mua đại đề nghị thanh toán bằng L/C , mình phân vân quá vì L/C vẫn có rủi ro chứ không phải là an toàn nhất. Mình cũng không biết nên chọn phương thức vận chuyển nào là có lợi nhất cho bên xuất khẩu ( chuyển giao rủi ro sớm hơn )..Mình là bên xuất , phải xuất hàng cho đối tác mà không được nhận khoản phí nào , như vậy là đã thấy lo rồi mà còn phải chờ đợi giải quyết L/C nữa..Lỡ có gì thì hàng mình đã ra khơi rồi , đâu thể lấy lại được nữa , và còn tồn tiền chi trả phí , thuế, …Nói chung , mình thấy bên xuất khẩu không được đảm bảo quyền lợi cho lắm…
    Anh có thể vui lòng tư vấn giúp mình hình thức thanh toán và vận chuyển nào có lợi nhất cho nhà xuất khẩu hay không , trong đó phải ràng buộc 100% bên mua phải chuyển tiền cho bên bán ngay sau khi giao hàng kèm bộ chứng từ xuất khẩu. Nếu mình thuê dịch vụ trọn gói ( như bên Eximbank chẳng hạn thì chi phí có cao lắm không anh ? Và nhờ anh vui lòng cho biết thêm bộ chứng từ xuất khẩu phải bao gồm những chứng từ , giấy tờ nào mới đầy đủ và hợp lệ ?
    Chân thành cảm ơn anh Thanh Hải.
    Rất mong tin anh…

  18. Chào anh! Em có thể hỏi anh câu này được không: trong thanh toán tín dụng chứng từ, nếu nhà nhập khẩu chọn ngân hàng thông báo là A nhưng ngân hàng phát hành LC thì chọn ngân hàng thông báo là B. Như vậy sẽ chọn ngân hàng thông báo nào? Em cám ơn anh! mail của em là huehip1102_tb@yahoo.com

  19. anh ơi, anh có các tình huống về ucp 600 từ điều 14 đến 28 không ạ? em sắp làm thuyết trình về những điều này nhưng k tìm thấy tình huống, anh có thể gởi cho em hoặc chỉ chỗ giúp em tìm cung được, địa chỉ email của em là hominhtam@yaoo.com

  20. Dear Anh Hai,
    Anh Hai giup em tra loi cau hoi nay voi vi em xem cac phan tren chi noi ve chung tu duong bien thoi : ” Hieu the nao la xuat trinh chung tu phu hop voi UCP 600 ?
    Cam on anh Hai nhiu nhiu !

  21. anh a, e moi bit dc web ne hni, em mun hoi mot cau. Khi hangx tau cap container rong doi voi chu hangle de ho thuc hien viec dong hang hoa thi chu tau se cap vao thoi diem truoc khi co hang vao cang hay sau khi co hang vao cang?

  22. chao anh!em dang la sv,tinh co bit duoc web cua a.cam on anh nhiu lam !!!!!!!!!!!! a da gup em qua 2 bai tieu luan do. thanks

  23. Chào anh Hải, em đang học Ngoại thương, sắp thi môn Thanh toán quốc tế. Tình cờ search được site này trên google. Em đang cần URR 525 va URC 522 bản tiếng Việt. Anh có thể gửi cho em được không. Mail của em là fami_87@yahoo.com. Cám ơn anh rất nhiều!

  24. Nhờ anh Hai giúp tìm giùm những chi tiết liên quan hoac form cua LC co red clause.

    Rat cam on anh.

    Thùy Trang

  25. Dear Hanh,

    Sorry nhá, mình rất bận nên ko thể comment kịp thời các câu hỏi của các Bạn được,

    Với câu hỏi của bạn, “Đứng ở góc độ nhà xuất khẩu cần phải lưu ý những vấn đề gì để một chứng từ xuất trình theo phương thức L\C phù hợp với các điều kiện trong thư tín dụng”

    Lưu ý:
    - Đọc kỹ và có kiến thức hiểu biết L/c từ Người NK, để biết rằng L/c yêu cầu xuất trình chứng từ gì, nội dung và hình thức chứng từ thế nào.
    - Sau đó phát hành chứng từ phải dựa trên nội dung qui định của L/C về chứng từ xuất trình để thanh toán (nội dung chứng từ phải phù hợp với L/c)
    VD: Loại chứng từ, nội dung qui đinh trên chứng từ, ngày phát hành chứng từ,
    - Phải lưu ý đến thời hạn xuất trình của chứng từ phù hợp và trong thời hạn hiệu lực của L/c
    - Ngày phát hành chứng từ chú ý phải ko được sau ngày của B/L

    Đó là những lưu ý khi phát hành chứng từ thanh toán

  26. XIN TRÍCH DẪN MỘT SỐ TÌNH HUỐNG ĐỂ CÁC BẠN THAM KHẢO

    Câu hỏi 1:
    Nội dung L/C:
    Bank A là issuing bank
    Bank B là advising bank
    Field 41: available with Bank B by payment
    Field 42: Draft at sight drawn on Bank B
    Field 49: Confirm

    Tuy nhiên, thực tế sau đó là Bank B không confirm L/C. Người thụ hưởng xuất trình chứng từ đến Bank C (Bank C là ngân hàng của người thụ hưởng). Bank C không xuất trình chứng từ đến Bank B mà xuất trình thẳng đến bank A.

    Vậy cho em hỏi: theo anh thì draft trong trường hợp này được lập như thế nào?

    1/drawee có thể để là Bank A được k? (vì Bank B không phải là confirming bank thì drawee chỉ có thể là Bank A thôi). Có opinion nào của ICC về trường hợp này không?
    hay
    2/drwawee vẫn để là Bank B theo L/C yêu cầu
    hay
    3/Không cần gửi draft cho Bank A vì L/C đâu có yêu cầu drawn on Bank A
    hay
    4/ Phải gửi chứng từ đến Bank B?

    Câu hỏi 2:
    Bank A là issuing bank
    Bank B là advising Bank
    Field 42: Draft at sight drawn on Bank A
    Field 49: May add
    Bank B điện báo Bank A rằng We added confirmation to L/C. as such, draft will be drawn on ourselves and be kept at our counter upon ben s presentation of docs .
    Trường hợp này Bank B có đúng không?

    Rất mong nhận được ý kiến của anh, cám ơn anh trước nhé.

    ——————————————-

    MR. OLD MAN’S COMMENT

    Hi,

    Mr. Old Man rất tiếc dạo rày bận quá không có nhiều thời gian để tìm những case study tương tự của ICC để phần trả lời của Mr. Old Man thuyết phục hơn. Tuy nhiên, với kinh nghiệm và theo sự hiểu biết của cá nhân, Mr. Old Man xin trả lời vấn đề bạn hỏi như sau:

    Tình huống 1:

    Nội dung LC có mâu thuẫn vì LC available by payment không yêu cầu phải xuất trình hối phiếu. Nếu LC yêu cầu xuất trình hối phiếu trả ngay thì Field 41 lẽ ra phải thể hiện như sau: “Available with confirming bank (Bank B) by negotiation”.

    Mr. Old Man xin trả lời trên cơ sở giả sử LC “râu ông nọ cắm cằm bà kia” được chấp nhận.

    Thông thường nếu không đồng ý xác nhận LC, ngân hàng được chỉ định xác nhận (Bank B) phải thông báo điều đó cho ngân hàng phát hành (Bank A) để Bank A chỉ định một ngân hàng khác xác nhận và thực hiện sửa đổi LC nếu cần thiết.

    Tương tự, người thụ hưởng khi nhận được thông báo LC mà không có xác nhận của Bank B lẽ ra cũng yêu cầu sửa đổi LC cho phù hợp.

    Ở đây tình huống bạn đặt ra cho thấy cả ngân hàng xác nhận lẫn người thụ hưởng đều bỏ qua hành động đó. Và điều này dẫn đến rắc rối vượt quá những quy định của UCP.

    Theo quan điểm của tôi, hối phiếu vẫn ký phát đòi tiền Bank B để phù hợp với quy định của LC. Điều 7 quy định rằng khi chứng từ phù hợp được xuất trình, ngân hàng phát hành phải trả tiền nếu LC thanh toán bằng cách trả ngay tại một ngân hàng được chỉ định và ngân hàng đó không trả tiền.

    Việc hối phiếu ký phát đòi tiền Bank A hoặc không gửi hối phiếu cho Bank A có vẻ rất logic phù hợp với thực tế nhưng có thể bị bắt lỗi không phù hợp với LC.

    UCP 600 Điều 6 (a) quy định rằng một LC quy định thanh toán với một ngân hàng được chỉ định cũng có thể thanh toán với ngân hàng phát hành. Như vậy, có thể xuất trình chứng từ trực tiếp cho ngân hàng phát hành để thanh toán mà không nhất nhất phải xuất trình cho ngân hàng được chỉ định (Bank B). Bank C trong trường hợp này chỉ đóng vai trò của ngân hàng chuyển chứng từ (remitting bank) và có thể chịu rủi ro nếu như chiết khấu chứng từ do ngân hàng phát hành (Bank A) không uỷ quyền cho Bank C để chiết khấu hay trả tiền.

    Tình huống 2:

    Yêu cầu của Bank B với tư cách là ngân hàng xác nhận LC là hợp lý. Tuy nhiên, Bank A có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đó. Trường hợp chấp nhận, Bank A cần phải sửa đổi LC, tức là quy định hối phiếu ký phát đòi tiền Bank B, thì điều này mới có giá trị thực hiện.

    Thực tế cho thấy đối với LC quy định MAY ADD (CONFIRMATION), nhiều ngân hàng xác nhận không nhất quyết yêu cầu hối phiếu phải ký phát đòi tiền ngân hàng xác nhận. Bank B yêu cầu như vậy có thể xuất phát từ một hoặc các lý do: (i) do Bank B muốn ràng buộc người thụ hưởng phải xuất trình chứng từ qua ngân hàng mình; (ii) nhằm mục đích để xác nhận rõ ràng rằng Bank A đã uỷ quyền cho Bank B xác nhận LC; (iii) do chính sách riêng của Bank B về điều kiện xác nhận; hoặc (iv) do tập quán quốc gia của Bank B.

    Nhân đây cũng xin nói qua nghiệp vụ xác nhận ngầm (silent confirmation) một chút. Khác với LC xác nhận, xác nhận ngầm được hiểu là việc một ngân hàng thực hiện xác nhận LC mà không được uỷ quyền của ngân hàng phát hành. Việc xác nhận này là thoả thuận riêng giữa ngân hàng xác nhận và người thụ hưởng. Trong một số tình huống cụ thể, chẳng hạn lừa đảo, ngân hàng xác nhận ngầm có thể không được UCP bảo vệ. Với xác nhận ngầm, ngân hàng xác nhận không yêu cầu (và không đủ tư cách để yêu cầu) hối phiếu ký phát đòi tiền chính mình.

    Hi vọng với quan điểm của Mr. Old Man vấn đề của bạn đã trở nên rõ ràng hơn.

  27. anh cho em hỏi là chừng nào anh mới có thể trả lời một bức thư vậy. Em thấy những thư trên trễ nhất là hai ngày anh đã trả lời vậy sao thư em và của bạn ở trên đến bây giờ anh vẫn chưa trả lời?????????????

  28. Chào anh, em mới vừa tìm được trang web of anh thông wa google…nó bổ ích ghê..hihi….
    Anh có thể giúp em chuyện này không? Em có câu hỏi trong đề thi sắp tới là: “Đứng ở góc độ nhà xuất khẩu cần phải lưu ý những vấn đề gì để một chứng từ xuất trình theo phương thức L\C phù hợp với các điều kiện trong thư tín dụng”
    Mong anh sớm trả lời cho em nha tại vì em sắp thi câu đó rùi đó…Cảm ơn anh rất rất nhiều

  29. Anh Hai oi, lop em dang hoc mon thanh toan quoc te. Tui em dang tim van ban URR 525 va URC 522 de thuc hanh bai tap tinh huong. Anh co ban tieng viet khong anh? Mong anh giup chung em som nhat co the anh nhe.
    Cam on anh rat nhieu.

  30. Dear Vu Hieu,

    Nếu mục consignee ghi ACB Bank, nếu nhận hàng bạn phải yêu cầu ACB Bank uỷ quyền nhận hàng cho Cty mua, đại lý hãng tàu sau khi co uỷ quyền của ABC sẽ phát lệnh giao hàng cho Công ty mua, airway bill cũng thế

  31. Chào anh.
    Cám ơn kiến thức và sự chia sẻ của anh, vô tình tìm một vấn đề quan tâm nên mới biết trang Web này của anh.
    Anh có thể giúp mình giải đáp một vấn đề được chứ ?
    Công ty thanh toán tiền hàng bằng L/C, đường hàng không, khi gởi chứng từ về có một điểm sai như sau:
    Mục Consignee: ACB Bank (đúng ra là To order: ACB Bank) và phần Notify: Công ty mua.
    Phía đại lý hãng tàu sẽ phát hành lệnh ủy quyền nhận hàng cho ai ? (ACB hay Công ty mua ?) và Air waybill này có được cho là vẫn hợp lệ ?
    Mong anh giúp giải đáp hay có tài liệu nào để tham khảo về vấn đề này. Chân thành cám ơn !

  32. Anh Hải ơi! Em đang cần một số tình huống cụ thể dùng UCP 600 để giải quyết. Mong anh có thể suggest cho em vài tình huống. Vì đang là sinh viên, nên tụi em khó biết các tình huống hay phát sinh…Mail của em là: uyen.nhp@gmail.com

  33. Chào anh Hải!

    Em lần đầu tiên được đọc trang web của anh, rất hay và bổ ích. Cảm ơn anh đã chia sẻ kiến thức cho mọi người. Em đang có bản mềm về 1 số Case studies khi áp dụng UCP 600 (TL tập huấn của Wachovia Bank), muốn post lên để chia sẻ cho mọi người

  34. Chào anh!Em cũng mới biết website cua anh qua google được gần 2 tháng nay thôi.Em dang hoc ngoại thương, đặc biệt là em đang làm luận văn liên quan về đàm phán,ký kết và tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Anh có thể kiếm giúp em cơ sở pháp lý liên quan đến những vấn đề đó không ạ?Em cũng có làm nhưng bị thiếu.Thanks so much!Mong sớm nhận được câu trả kời của anh.

  35. Dear Thu Giang

    Mình ko có tài liệu này, Bạn nào làm trong linh vực Ngân hàng hãy giúp Thu Giang nhé

  36. Em muon tim tai lieu lien quan den viec cac ngan hang thuong mai da ung dung UCP 600 va ISBP 681 nhu the nao? Anh co the giup em khong? Em dang can lam. Cam on anh nhieu

  37. My company comes to an agreement with Japan company about transport of goods.
    I have to reply by email so I don’t know more about buying something by email order.
    I buy something on Alibaba.com.
    Help me

    my email: lanphuongneu@yahoo.com.vn

  38. My company comes to an agreement with Japan company about transport of goods.
    I have to reply by email so I don’t know more about buying something by email order.
    I buy something on Alibaba.com.
    Help me

  39. Anh Hải mến!
    Em là sinh viên trường đại học kinh tế.Em đang cần bản dịch tiếng việt của UCP 500 anh có thể làm ơn gởi bài đó qua địa chỉ mail của em là sakurav999@yahoo.com dùm em nhen.
    Chân thành cám ơn anh nhiều. Mong sớm nhận được thư hồi đáp của anh

  40. ý em là các tình huống xảy ra trong thanh toán qtế như: các tranh chấp mà trong LC có dẫn chiếu áp dụng theo qui tắc của UCP600. cảm ơn anh nhìu lắm!

  41. Hoặc bạn có thể đọc bài các loạt bài về ứng dụng L/C trong thanh toán quốc tế, những rủi ro trong chuyên mục “Thương mại quốc tế”. Trong đó có các tình huống xảy ra và cách phòng tránh, cũng như hướng giải quyết

  42. Áp dụng UCP600, chỉ dùng trong thương mại quốc tế. Nhưng tình huống áp dụng UCP600 ? tôi chưa hiểu rõ câu hỏi này.
    Tuy nhiên UCP600 có rất nhiều điều khoản được áp dụng trong thanh toán quốc tế, và sử dụng trong các tình huống xảy ra tranh chấp, khi chủ thể dẫn chiếu UCP600 trong hợp đồng, L/C

  43. a ơi! a có thể gửi giúp em những tình huống giải quyết áp dụng UCP600 dc ko ạ!thanks a nhìu nhìu lắm, em sắp thuyết trình về ví dụ minh họa cho việc áp dụng UCP, email của em la phungmyhanh18@yahoo.com

  44. Với L/C đối ứng thì thường xuyên được sử dụng trong việc trao đổi hàng lấy hàng, hoặc gia công sản xuất hàng XK. Đối với L/C điều khoản đỏ hiện nay rất ít khi sử dụng. Một số Ngân hàng từ chối mở L/C điều khoản đỏ nếu điều khoản đó ko có lợi cho người NK phải dùng vốn vay NH để thanh toán.

    Các tình huống trong sử dung 2 loại L/C này cũng rất ít đc đề cập đến trong các tài liệu.

  45. Hiện nay việc các ngân hàng áp dụng 2 loại L/C như thế nào vậy anh?

  46. Anh ơi!anh có thể cho em 1 vài tình huống về L/C đối ứng và L/C có điều khoản đỏ được không ạ, 2 loại L/C này em tìm tài liệu nhiều mà vẫn không thấy anh ơi.
    Em cảm ơn anh!

  47. Yeu cau ben gui lien he voi hang tau de sua doi ten Consegnee, hoac xac nhan cua Hang tau gui cho Dai ly

  48. chào anh ạh, anh ơi, em ghi nhầm tên consignee , bi giờ yêu cầu bên gửi có thể cấp lại BL được không anh? hàng về đến cảng mất rồi.

  49. Anh Hải ơi! Em đang cần một số tình huống cụ thể dùng UCP 600 để giải quyết. Mong anh có thể suggest cho em vài tình huống. Vì đang là sinh viên, nên tụi em khó biết các tình huống hay phát sinh…Mail của em là blackensong@yahoo.com
    Rất mong hồi âm từ anh!

  50. Xét về tính pháp lý theo Bộ Luật hàng hải VN, Luật thương mại thi tàu chuyến và tàu chợ đều có tính pháp lý khi trách nhiệm của người chuyên chở và người gửi hàng được xác định trên cơ sở hợp đồng

    Trong trường hợp bị mất B/L. Việc đầu tiên sẽ phải liên hệ với người gửi hàng để xác nhận việc đó. Trong trường hợp B/L theo lệnh có thể trình B/L copy để Ngân hàng ký hậu lại. Nếu là B/L đính danh và vô danh có thể liên hệ với người gưi hàng và hãng tàu để thoả thuận, hoặc trong trường hợp cuối cùng là thanh toán để được xác nhận sử dụng B/L không cần xuất trình chứng từ gốc

  51. cho em hỏi tại sao giá trị pháp lý của tàu chợ lại cao hơn tàu chuyến ?

    giả sử trên đường ra nhận hàng, em bị giựt mất cái bill of lading, vậy thì làm sao mà nhận được hàng hả anh ?

    (mong anh trả lời gấp)

  52. xin chao anh Hải
    Em có vấn đề này nhờ anh giúp đỡ: anh có thể giúp em phân biệt : Usance Draft và hối phiếu trả chậm không
    thanks anh nhieu nha

  53. hom truoc em co nho anh tim giup em cac mau van don duong bien va mau hop dong thue tau chuyen(mau thuc) bang tieng anh.neu co the anh giup em voi, em sap den ngay phai nop bai roi.dia chi email cua em: hothimyxnk9a@yahoo.com
    mong nhan hoi am cua anh som. cam on anh

  54. MẪU HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN
    ———————————-
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HÓA
    Số: /HĐVCHH-

    - Căn cứ Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ngày 25-9-1989 của Hội đồng Nhà nước và Nghị định số 17/HĐBT ngày 16-01-1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
    - Căn cứ (các văn bản pháp quy về vận tải hàng hóa của ngành hoặc địa phương nếu có).
    - Căn cứ vào sự thỏa thuận của hai bên.
    Hôm nay, ngày tháng năm tại (ghi địa điểm ký kết).
    Chúng tôi gồm có:
    Bên A: Chủ hàng
    Tên doanh nghiệp:
    Địa chỉ trụ sở chính:
    Điện thoại: Telex: Fax:
    Tài khoản số: Mở tại ngân hàng:
    Đại diện bởi: Chức vụ:
    (Giấy ủy quyền số: Viết ngày tháng năm Do chức vụ ký).
    Bên B: Bên chủ phương tiện
    Tên doanh nghiệp:
    Địa chỉ trụ sở chính:
    Điện thoại: Telex: Fax:
    Tài khoản số: Mở tại ngân hàng:
    Đại diện bởi: Chức vụ:
    (Giấy ủy quyền số: Viết ngày tháng năm Do chức vụ ký).
    Hai bên thống nhất thỏa thuận nội dung hợp đồng như sau:
    Điều 1: Hàng hóa vận chuyển
    1. Tên hàng: Bên A thuê bên B vận tải những hàng hóa sau:
    -
    -
    2. Tính chất hàng hóa:
    Bên B cần lưu ý bảo đảm cho bên A những loại hàng sau được an toàn:
    - hàng cần giữ tươi sống
    - hàng cần bảo quản không để biến chất
    - hàng nguy hiểm cần che đậy hoặc để riêng
    - hàng dễ vỡ.
    - súc vật cần giữ sống bình thường
    3. Đơn vị tính đơn giá cước (phải quy đổi theo quy định của Nhà nước, chỉ được tự thỏa thuận nếu Nhà nước chưa có quy định)
    Điều 2: Địa điểm nhận hàng và giao hàng
    1/ Bên B đưa phương tiện đến nhận hàng tại (kho hàng) số nhà đường phố (địa danh) do bên A giao.
    (Chú ý: Địa điểm nhận hàng phải là nơi mà phương tiện vận tải có thể vào ra thuận tiện, an toàn).
    2/ Bên B giao hàng cho bên A tại địa điểm (có thể ghi địa điểm mà người mua hàng bên A sẽ nhận hàng thay cho bên A).
    Điều 3: Định lịch thời gian giao nhận hàng

    STT Tên hàng Nhận hàng Giao hàng Ghi chú
    Số lượng Địa diểm Thời gian Số lượng Địa điểm Thời gian

    Điều 4: Phương tiện vận tải
    1/ Bên A yêu cầu bên B vận tải số hàng trên bằng phương tiện (xe tải, tàu thủy, máy bay v.v…).
    Phải có những khả năng cần thiết như:
    - Tốc độ phải đạt km/ giờ.
    - Có máy che (bằng );
    - Số lượng phương tiện là:
    2/ Bên B chịu trách nhiệm về kỹ thuật cho phương tiện vận tải để bảo đảm vận tải trong thời gian là:
    3/ Bên B phải chuẩn bị đầy đủ giấy tờ cho phương tịên đi lại hợp lệ trên tuyến giao thông đó để vận tải số hàng hóa đã thỏa thuận như trên và chịu mọi hậu quả về giấy tờ pháp lý của phương tiện vận tải.
    4/ Bên B phải làm vệ sinh phương tiện vận tải khi nhận hàng chi phí vệ sinh phương tiện vận tải sau khi giao hàng bên A phải chịu là đồng.
    5/ Sau khi bên B đưa phương tiện đến nhận hàng mà bên A chưa có hàng để giao sau: phút thì bên A phải chứng nhận cho bên B đem phương tiện về (từ 30 phút đến 60 phút có thể đòi về) và phải trả giá cước của loại hàng thấp nhất về giá vận tải theo đoạn đường đã hợp đồng. Trong trường hợp không tìm thấy người đại diện của bên A tại địa điểm giao hàng, bên B chờ sau 30 phút có quyền nhờ ủy ban nhân dân cơ sở xác nhận phương tiện có đến rồi cho phương tiện về và yêu cầu thanh toán chi phí như trên.
    6/ Bên B có quyền từ chối không nhận hàng nếu bên A giao hàng không đúng loại hàng ghi trong vận đơn khi xét thấy phương tiện điều động không thích hợp với loại hàng đó, có quyền bắt bên A phải chịu phạt % giá trị tổng cước phí (tương đương trường hợp đơn phương đình chỉ hợp đồng).
    7/ Trường hợp bên B đưa phương tiện đến nhận hàng chậm so với lịch giao nhận phải chịu phạt hợp đồng là: đồng/ giờ.
    Điều 5: Về giấy tờ cho việc vận chuyển hàng hóa
    1/ Bên B phải làm giấy xác báo hàng hóa (phải được đại diện bên B ký, đóng dấu xác nhận) trước giờ so với thời điểm giao hàng.
    2/ Bên B phải xác báo lại cho bên A số lượng và trọng tải các phương tiện có thể điều động trong 24 giờ trước khi bên A giao hàng. Nếu bên A không xác báo xin phương tiện thì bên B không chịu trách nhiệm.
    3/ Bên A phải làm vận đơn cho từng chuyến giao hàng ghi rõ tên hàng và số lượng (phải viết rõ ràng, không tẩy xóa, gạch bỏ, viết thêm, viết chồng hay dán chồng…Trường hợp cần sửa chữa, xóa bỏ… Phải có ký chứng thực). Bên A phải có trách nhiệm về những điều mình ghi vào vận đơn giao cho bên B.
    4/ Bên A phải đính kèm vận đơn với các giấy tờ khác cần thiết để các cơ quan chuyên trách có thể yêu cầu xuất trình khi kiểm soát như:
    - Giấy phép lưu thông loại hàng hóa đặc biệt.
    - Biên bản các khoản thuế đã đóng.
    -
    Nếu không có đủ các giấy tờ khác cần thiết cho việc vận chuyển loại hàng hóa đó thì phải chịu trách nhiệm do hậu quả để thiếu như trên: Phải chịu phạt chờ đợi là đồng/ giờ, hàng để lâu có thể bị hư hỏng, trường hợp hàng bị tịch thu vẫn phải trả đủ tiền cước đã thỏa thuận.
    5/ Trường hợp xin vận chuyển đột xuất hàng hóa. Bên B chỉ nhận chở nếu có khả năng. Trường hợp này bên A phải trả thêm cho bên B một khoản tiền bằng giá cước vận chuyển, ngoài ra còn phải chi phí các khoản phí tổn khác cho bên B kể cả tiền phạt do điều động phương tiện vận tải đột xuất làm lỡ các hợp đồng đã ký với chủ hàng khác (nếu có). Trừ các trường hợp bên A có giấy điều động phương tiện vận chuyển hàng khẩn cấp theo lệnh của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải trở lên thì không phải nộp các khoản tiền bồi thường các chi phí tổn đó.
    Điều 6: Phương thức giao nhận hàng
    1/ Hai bên thỏa thuận nhận hàng theo phương thức sau:
    Lưu ý: Tùy theo từng loại hàng và tính chất phương tiện vận tải mà thỏa thuận giao nhận theo một trong các phương thức sau:
    - Nguyên đai, nguyên kiện, nguyên bao.
    - Theo trọng lượng, thể tích.
    - Theo nguyên hầm hay container.
    - Theo ngấn nước của phương tiện vận tải thủy.
    2/ Bên A đề nghị bên B giao hàng theo phương thức (có thể nhận sao giao vậy).
    Điều 7: Trách nhiệm xếp dỡ hàng hóa
    1/ Bên B (A) có trách nhiệm xếp dỡ hàng hóa
    Chú ý:
    - Tại địa điểm có thể tổ chức xếp dỡ chuyên trách thì chi phí xếp dỡ do chủ hàng (bên A) chịu.
    - Trong trường hợp chủ hàng phụ trách xếp dỡ (không thuê chuyên trách) thì bên vận tải có trách nhiệm hướng dẫn về kỹ thuật xếp dỡ.
    2/ Thời gian xếp dỡ giải phóng phương tiện là giờ.
    Lưu ý: Nếu cần xếp dỡ vào ban đêm, vào ngày lễ và ngày chủ nhật bên A phải báo trước cho bên B 24 giờ, phải trả chi phí cao hơn giờ hành chính là đồng/giờ (tấn).
    3/ Mức thưởng phạt
    - Nếu xếp dỡ xong trước thời gian quy định và an toàn thì bên sẽ thưởng cho bên Số tiền là đồng/giờ.
    - Xếp dỡ chậm bị phạt là: đồng/ giờ.
    - Xếp dỡ hư hỏng hàng hóa phải bồi thường theo giá trị thị trường tự do tại địa điểm bốc xếp.
    Điều 8: Giải quyết hao hụt hàng hóa
    1/ Nếu hao hụt theo quy định dưới mức % tổng số lượng hàng thì bên B không phải bồi thường (mức này có quy định của Nhà nước phải áp dụng theo, nếu không hai bên tự thỏa thuận).
    2/ Hao hụt trên tỷ lệ cho phép thì bên B phải bồi thường cho bên A theo giá trị thị trường tự do tại nơi giao hàng (áp dụng cho trường hợp bên A không cử người áp tải).
    3/ Mọi sự kiện mất hàng bên A phải phát hiện và lập biên bản trước và trong khi giao hàng, nếu đúng thì bên B phải ký xác nhận vào biên bản, nhận hàng xong nếu bên A báo mất mát, hư hỏng bên B không chịu trách nhiệm bồi thường.
    Điều 9: Người áp tải hàng hóa (nếu cần)
    1/ Bên A cử người theo phương tiện để áp tải hàng (có thể ghi rõ họ tên).
    Lưu ý: Các trường hợp sau đây bên A buộc phải cử người áp tải:
    Hàng quý hiếm: vàng, kim cương, đá quý…
    Hàng tươi sống đi đường phải ướp;
    Súc vật sống cần cho ăn dọc đường;
    Hàng nguy hiểm;
    Các loại súng ống, đạn dược;
    Linh cửu, thi hài.
    2/ Người áp tải có trách nhiệm bảo vệ hàng hóa và giải quyết các thủ tục kiểm tra liên quan đến hàng hóa trên đường vận chuyển.
    3/ Bên B không phải chịu trách nhiệm hàng mất mát nhưng phải có trách nhiệm điều khiển phương tiện đúng yêu cầu kỹ thuật để không gây hư hỏng, mất mát hàng hóa. Nếu không giúp đỡ hoặc điều khiển phương tiện theo yêu cầu của người áp tải nhằm giữ gìn bảo vệ hàng hóa hoặc có hành vi vô trách nhiệm khác làm thiệt hại cho bên chủ hàng thì phải chịu trách nhiệm theo phần lỗi của mình.
    Điều 10: Thanh toán cước phí vận tải
    1/ Tiền cước phí chính mà bên A phải thanh toán cho bên B bao gồm:
    - Loại hàng thứ nhất là: đồng.
    - Loại hàng thứ hai là: đồng.
    - v.v…
    Lưu ý: Cước phí phải dựa theo đơn giá Nhà nước quy định, nếu không có mới được tự thỏa thuận.
    + Tổng cộng cước phí chính là: đồng.
    2/ Tiền phụ phí vận tải bên A phải thanh toán cho bên B gồm: (tùy theo chủng loại hợp đồng để thỏa thuận).
    Phí tổn điều xe một số quãng đường không chở hàng là đồng/ km.
    Cước qua phà là đồng.
    Chi phí chuyển tải là đồng.
    Phí tổn vật dụng chèn lót là đồng.
    Chuồng cũi cho súc vật là đồng.
    Giá chênh lệch nhiên liệu tổng cộng là đồng.
    Lệ phí bến đổ phương tiện là đồng.
    Kê khai trị giá hàng hóa hết 9ồng.
    Cảng phí hết đồng.
    Hoa tiêu phí hết đồng.
    3/ Tổng cộng cước phí bằng số: Bằng chữ:
    4/ Bên A thanh toán cho bên B bằng hình thức sau: (Có thể là chuyển khoản, tiền mặt, bằng hiện vật…).
    Điều 11: Đăng ký bảo hiểm
    1/ Bên A phải chi phí mua bảo hiểm hàng hóa.
    2/ Bên B chi phí mua bảo hiểm phương tiện vận tải với chi nhánh Bảo Việt.
    Điều 12: Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng (nếu cần)

    Điều 13: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
    1/ Bên nào vi phạm hợp đồng, một mặt phải trả cho bên bị vi phạm tiền phạt vi phạm hợp đồng, mặt khác nếu có thiệt hại xảy ra do lỗi vi phạm hợp đồng dẫn đến như mất mát, hư hỏng, tài sản phải chi phí để ngăn chặn hạn chế thiệt hại do vi phạm gây ra, tiền phạt do vi phạm hợp đồng khác và tiền bồi thường thiệt hại mà bên bị vi phạm đã phải trả cho bên thứ ba là hậu quả trực tiếp của sự vi phạm này gây ra.
    2/ Nếu bên A đóng gói hàng mà không khai hoặc khai không đúng sự thật về số lượng, trọng lượng hàng hóa thì bên A phải chịu phạt đến % số tiền cước phải trả cho lô hàng đó.
    3/ Nếu bên B có lỗi làm hư hỏng hàng hóa trong quá trình vận chuyển thì:
    - Trong trường hợp có thể sửa chữa được nếu bên A đã tiến hành sửa chữa thì bên B phải đài thọ phí tổn.
    - Nếu hư hỏng đến mức không còn khả năng sửa chữa thì hai bên thỏa thuận mức bồi thường hoặc nhờ cơ quan chuyên môn giám định và xác nhận tỷ lệ bồi thường.
    4/ Nếu bên A vi phạm nghĩa vụ thanh toán tổng cước phí vận chuyển thì phải chịu phạt theo mức lãi suất chậm trả của tín dụng ngân hàng là % ngày (hoặc tháng) tính từ ngày hết hạn thanh toán.
    5/ Bên nào đã ký hợp đồng mà không thực hiện hợp đồng hoặc đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng mà không có lý do chính đáng thì sẽ bị phạt tới % giá trị phần tổng cước phí dự chi.
    6/ Nếu hợp đồng này có một bên nào đó gây ra đồng thời nhiều loại vi phạm, thì chỉ phải chịu một loại phạt có số tiền phạt ở mức cao nhất theo các mức phạt mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng này, trừ các loại trách hiệm bồi thường khi làm mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa lúc vận chuyển.
    Điều 14: Giải quyết tranh chấp hợp đồng
    1/ Hai bên cần chủ động thông báo cho nhau biết tiến độ thực hiện hợp đồng.
    Nếu có vấn đề bất lợi gì phát sinh, các bên phải kịp thời thông báo cho nhau biết và tích cực bàn bạc giải quyết trên cơ sở thỏa thuận bình đẳng, cùng có lợi (cần lập biên bản ghi toàn bộ nội dung sự việc và phương pháp giải quyết đã áp dụng).
    2/ Trường hợp các bên không tự giải quyết xong được thì thống nhất sẽ khiếu nại tới tòa án là cơ quan có đủ thẩm quyền giải quyết những tranh chấp trong hợp đồng này.
    3/ Chi phí cho những hoạt động kiểm tra xác minh và lệ phí tòa án do bên có lỗi chịu.
    Điều 15: Các thỏa thuận khác, nếu cần.
    Điều 16: Hiệu lực của hợp đồng
    Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày tháng năm đến ngày tháng năm
    Hai bên sẽ họp và lập biên bản thanh lý hợp đồng này vào ngày
    Hợp đồng này được làm thành bản, có giá trị như nhau, mỗi bên giữ bản. Gửi cho cơ quan bản.
    ĐẠI DIỆN BÊN A ĐẠI DIỆN BÊN B
    Chức vụ: Chức vụ:
    (Ký tên, đóng dấu) (Ký tên, đóng dấu)

  55. Anh oi !!! Anh lam on gui cho em ban UCP 500 nguyen ban bang tieng viet duoc khong a. Em dang can gap lam. Mail cua em la thanhanh18205@gmail.com. Em cam on anh rat nhiu.

  56. em can cac mau van don duong bien va mau hop dong theu tau chuyen gap.anh co the giup em khong .cam on anh .

  57. Về cơ bản có thể lấy UCP600 làm cơ sở, xin xem mục ” Một số thay đổi cơ bản của UCP 600 so với UCP 500″ hoặc bản so sánh UCP 600 và UCP 500 trong chuyên mục ” THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ”

    Tuy nhiên nếu muốn UCP 500 nguyên bản, hãy gửi địa chỉ email tôi sẽ gửi cho bạn

  58. lam on tim giup em UCP 500 duoc ko anh> Thanks so much!

  59. Chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển và những vấn đề cần quan tâm theo quy định của UCP 600

    Tháng 5 năm 2003, Phòng Thương mại quốc tế đã ủy quyền cho Ủy ban Kỹ thuật và Tập quán ngân hàng triển khai việc sửa đổi bản quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, ấn phẩm ICC số 500 (gọi tắt là UCP 500). Mục đích của việc sửa đổi UCP 500 là phản ánh được những thay đổi và phát triển các hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, vận tải và bảo hiểm. Bên cạnh đó là rà soát lại ngôn từ, hành văn trong UCP nhằm tránh những tranh chấp phát sinh khi ứng dụng và giải thích trên thực tế.

    Sau hơn 3 năm khảo sát, phân tích, rà soát, tranh luận và dung hòa giữa các thành viên của nhóm soạn thảo Ủy ban Ngân hàng và các ủy ban quốc gia có liên quan của ICC, ấn phẩm mới ICC số 600 đã ra đời – UCP 600. Nội dung UCP 600 đề cập tới nhiều vấn đề, bài viết này đề cập tới chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển và những vấn đề cần quan tâm theo quy định của UCP 600.

    Theo quy định của UCP 600, những vấn đề cần quan tâm tới chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển cụ thể như sau:

    Các loại chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển

    UCP 600 đã chia chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển thành 3 loại:

    - Vận đơn đường biển (Bill of Lading)

    - Giấy gửi hàng bằng đường biển không lưu thông (Non-Negotiable Seawaybill)

    - Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu (Charter Pary Bill of Lading)

    Như vậy khi gửi hàng bằng đường biển, tùy theo yêu cầu của tín dụng chứng từ, các loại chứng từ trên đây đều được ngân hàng coi là chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển và chấp nhận để thanh toán.

    Hình thức của chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển

    Chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển có thể phát hành dưới hai hình thức:

    - Chứng từ giấy: Đối với chứng từ giấy thì bao gồm 2 mặt: mặt 1 sẽ chứa đựng những nội dung theo quy định, mặt 2 chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở.

    - Chứng từ điện tử: Đối với chứng từ điện tử, UCP 600 không đề cập trong nội dung, mà sẽ có bản phụ trương hướng dẫn cụ thể kèm theo. Nếu phát hành dưới dạng điện tử thì không bao gồm 2 mặt mà bao gồm 2 bộ phận hợp thành: bộ phận thứ nhất gọi là chứng từ vận đơn điện tử (Electronic Bill of Lading text) và bộ phận thứ hai gọi là trang đăng ký chuyển đổi.

    Song phát hành dưới hình thức nào cũng phải đảm bảo những nội dung được quy định trong UCP 600.

    Nội dung của chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển

    Tên gọi của chứng từ

    Chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển cho dù được gọi như thế nào, UCP 600 không quan tâm, miễn là nội dung của chứng từ đáp ứng những quy định của UCP.

    Ví dụ: Một chứng từ khi xuất trình tại ngân hàng có tiêu đề: “Bill of Lading or Seawaybill for Combined transport Shipment or port to port Shipment” chưa phải là cơ sở để ngân hàng chấp nhận hay từ chối, mà việc chấp nhận hay từ chối sẽ phụ thuộc vào nội dung chứng từ thể hiện theo quy định.

    Người phát hành và người ký chứng từ

    + Người phát hành chứng từ: Đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, phải chỉ rõ tên người chuyên chở (indicate the name of the carrier), nhưng không được thể hiện và ghi là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu (contain no indication that it is subject to a charter party).

    Đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu, không cần chỉ rõ tên người chuyên chở, nhưng có ghi là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu (containing an indication that it is subject to charter party).

    + Người ký chứng từ: Theo UCP 600, người ký các chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển cụ thể như sau:

    Đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, người ký chứng từ có thể là người chuyên chở hay đại lý hoặc người thay mặt người chuyên chở; thuyền trưởng hay đại lý hoặc người thay mặt thuyền trưởng.

    Đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu, người ký chứng từ có khác đôi chút so với người ký chứng từ trên vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển. Cụ thể, người ký vận đơn theo hợp đồng thuê tàu có thể là thuyền trưởng hay đại lý hoặc người thay mặt thuyền trưởng; chủ tàu hay đại lý hoặc người thay mặt chủ tàu; người thuê tàu hay đại lý hoặc người thay mặt người thuê tàu (người thuê tàu thường gọi là người chuyên chở).

    Người ký chứng từ, khi ký phải thể hiện rõ tư cách pháp lý của mình. Riêng đối với đại lý, khi ký, ngoài việc thể hiện là đại lý, còn phải ghi rõ đại lý cho ai, nghĩa là phải ghi rõ tên của người mà mình là đại lý cho họ.

    Xếp hàng lên tàu

    Trên các chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, UCP 600 quy định rất cụ thể về hàng xếp lên tàu. Chứng từ vận chuyển phải chỉ rõ hàng hóa đã được xếp lên con tàu chỉ định tại cảng giao hàng quy định trong thư tín dụng (indicate that the goods have been shipped on board a name vessel at the port of loading stated in the credit). Nội dung này trên chứng từ có thể được thể hiện bằng hai cách, hoặc là một cụm từ in sẵn (pre-printed wording) hoặc là một ghi chú là hàng đã được xếp lên tàu và có ghi ngày xếp hàng lên tàu (an onboard notation indicating the date on wich the goods have been shipped in board).

    Ngày giao hàng

    Theo quy định của UCP 600 thì ngày phát hành vận đơn sẽ được coi là ngày giao hàng (the date of issuance of the Bill of Lading will be deemed to be the date of shipment), trừ khi trên chứng từ vận chuyển đã có ghi chú ngày xếp hàng lên tàu thì ngày xếp hàng lên tàu sẽ được coi là ngày giao hàng (the date stated in the on board notation will be deemed to be the date of shipment).

    Như vậy, theo quy định của UCP 600, ngày xếp hàng lên tàu chính là ngày giao hàng. Còn ngày phát hành chứng từ vận chuyển sẽ được coi như ngày giao hàng nếu trên chứng từ không có ghi chú khác về ngày xếp hàng lên tàu. Trên thực tế cũng có những trường hợp ngày phát hành chứng từ vận chuyển có thể trước hoặc sau ngày xếp hàng lên tàu – Trong những trường hợp này không được coi ngày phát hành chứng từ vận chuyển là ngày giao hàng.

    Hành trình của hàng hóa

    Theo UCP 600, hành trình của hàng hóa phải được thể hiện cụ thể trên chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển. Nghĩa là trên chứng từ vận chuyển phải chỉ rõ chuyến hàng được giao từ cảng xếp hàng tới cảng dỡ hàng đã được quy định trong thư tín dụng (indicate shipment from the port of loading to the port of discharge state in the credit). Còn trường hợp trên chứng từ vận chuyển chưa xác định rõ được cảng xếp hoặc ghi cảng dự định xếp hàng thì khi xếp hàng lên tàu phải ghi chú rõ tên cảng xếp như quy định trong tín dụng, ngày xếp hàng lên tàu và tên tàu hàng đã xếp lên.

    Chuyển tải

    Vấn đề chuyển tải được UCP 600 đề cập đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, còn không đề cập đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu.

    Ở Điều 20 và 21 của UCP 600, khoản b và c sau khi đưa ra khái niệm về chuyển tải, đã quy định là trên chứng từ vận chuyển có thể ghi hàng hóa sẽ hoặc có thể chuyển tải miễn là toàn bộ hành trình vận chuyển chỉ sử dụng một và cùng một chứng từ.

    Nếu hàng hóa được giao bằng container, xe moóc hoặc sà lan tàu LASH ghi trên chứng từ, thì ngay cả khi tín dụng thư cấm chuyển tải (even if the credit prohibits transhipment) các ngân hàng vẫn có thể chấp nhận một chứng từ vận chuyển ghi việc chuyển tải sẽ hoặc có thể xảy ra (transhipment will of may take place).

    Chứng từ vận chuyển gốc

    Trong chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, khi nhận hàng để chở, người nhận hàng để chở thường phát hành cho người gửi hàng 01 hoặc 01 bộ chứng từ vận chuyển gốc – Ở nội dung này, UCP 600 cũng quy định cụ thể: Khi xuất trình chứng từ vận chuyển gốc tại ngân hàng có thể xuất trình một bản gốc duy nhất nếu phát hành một bản gốc, còn phát hành một bộ thì phải xuất trình trọn bộ chứng từ gốc đã phát hành.

    Điều kiện và điều khoản chuyên chở

    Với điều kiện và điều khoản chuyên chở, UCP 600 chỉ đề cập đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, còn không đề cập đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu:

    + Đối với vận đơn đường biển và giấy gửi hàng bằng đường biển, UCP 600 quy định “không thể hiện phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu”. Vì vậy, trong nội dung của hai chứng từ này phải “chứa đựng các điều kiện và điều khoản chuyên chở hoặc phải dẫn chiếu tới các nguồn khác chứa đựng những điều kiện và điều khoản chuyên chở (trường hợp vận đơn hay giấy gửi hàng mặt sau để trắng). Về nội dung của các điều kiện và điều khoản chuyên chở, theo quy định của UCP 600, thì các ngân hàng không có trách nhiệm kiểm tra, xem xét.

    + Đối với vận đơn theo hợp đồng thuê tàu, UCP 600 quy định có ghi trên đó là phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu, mà hợp đồng thuê tàu đã đầy đủ các điều kiện và điều khoản chuyên chở, cho nên UCP 600 không đề cập tới điều kiện và điều khoản chuyên chở trên vận đơn. Về nội dung của hợp đồng thuê tàu, các ngân hàng cũng không có trách nhiệm kiểm tra và xem xét ngay cả khi hợp đồng thuê tàu phải xuất trình theo yêu cầu của thư tín dụng…

    Trên đây là những quy định về chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển và những nội dung cơ bản cần quan tâm trong chứng từ vận chuyển đường biển khi xuất trình tại ngân hàng theo UCP 600.

    PGS.TS. Nguyễn Như Tiến
    Đại học Ngoại thương

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 113 other followers