Memoires of a geisha


Arthur Golden

Đời kỹ nữ Memoires of a geisha 

Lời mở đầu

Người dịch: Văn Hòa – Kim Thủy
Nhà xuất bản Văn Học

Vào một buổi tối mùa xuân năm 1936, khi tôi còn là một chú bé 16 tuổi, bố tôi dẫn tôi đi xem trình diễn ca nhạc múa ở Kyoto. Tôi chỉ nhớ hai điều về buổi trình diễn đó. Điều thứ nhất là bố tôi và tôi là hai người phương Tây duy nhất trong đám khán giả, chúng tôi mới từ quê nhà Hòa Lan sang đây được mấy tuần, cho nên tôi chưa quen với nền văn hóa xa lạ ở xứ này, nhưng tôi cảm thấy rất hấp dẫn. Điều thứ hai là nhờ sau nhiều tháng ra sức học tiếng Nhật, tôi cảm thấy thú vị biết bao khi hiểu được phần nào những câu chuyện họ nói với nhau. Riêng về các thiếu nữ Nhật đang ca múa trên sân khấu trước mặt, tôi không nhớ được gì, ngoại trừ hình ảnh lờ mờ về chiếc kimono màu sắc tươi sáng. Ở một nơi xa với nước Nhật như New York city này, và với khoảng thời gian đã gần 50 năm, nếu không có người phụ nữ đã từng múa trên sân khấu ở thành bạn thân của tôi, đọc cho tôi ghi lại hồi ức của bà ta, thì chắc tôi sẽ không biết gì hết về nền văn hóa đó.
Vì là sử gia, cho nên tôi luôn luôn xem hồi ức là nguồn tài liệu quan trọng. Hồi ức cung cấp tài liệu về xã hội đương thời nhiều hơn chính bản thân của người viết hồi ký. Hồi ký khác với tiểu sử ở chỗ người viết hồi ký không bao giờ hòan tất được kêt cuộc, còn người viết tiểu sử đương nhiên là có. Nếu xem hồi ký là tự nguyện thì chẳng khác nào yêu cầu con thỏ kẻ lại cho chúng ta nghe về cánh đồng mà nó đã nhảy qua. Làm sao nó biết được? Còn nếu chúng ta muốn biết cánh đồng, muốn nghe nói đến những nơi con thỏ không thể thấy được thì chẳng có ai có hoàn cảnh thuận tiện hơn để nói.
Tôi nói chuyện này với tinh thần của một nhà sử học, căn cứ trên các dữ kiện chính xác. Thế nhưng tôi phải thú nhận rằng hồicủa bà bạn Nitta Sayuri của tôi đã khiến cho tôi phải suy nghĩ lại quan điểm của mình. Đúng thế, bà ấy đã lý giải cho chúng ta hiểu được phần nào thế giới bí mật mà bà đã sống – nếu quý vị muốn nói đấy là quan điểm của con thỏ về cánh đồng cũng được. Chắc không có một tài liệu kỳ lạ nào nói về đời sống kỳ lạ của nàng geisha đầy đủ, hay hơn tài liệu mà bà Sayuri đã cung cấp cho chúng ta. Bà còn để lại cho chúng ta tài liệu nói về bà hết sức đầy đủ, chính xác, có sức thuyết phục hơn cả chương sách nói dông dài về bà trong cuốn “Những viên ngọc lóng lánh của nước Nhật” (Glittering Jewels of Japan), hay hơn cả những bài viết về bà đăng trên các tạp chí xuất bản trong những năm vừa qua. Ít ra thì đây cũng là trường hợp hy hữu, vì không ai biết rõ người viết hồi ký bằng chính đương sự được.
Việc bà Sayuri nổi tiếng như cồn chỉ là chuyện may mắn. Nhiều phụ nữ khác đã sống như bà. Bà Kato Yuki danh tiếng – nàng geisha đã chiếm được trái tim của ông J. Pierpont, và trở thành vợ ngoại hôn của ông trong suốt thập niên đầu tiên của thế kỷ này – đã sống cuộc sống còn hy hữu hơn cả bà Sayuri nữa. Nhưng chỉ có Sayuri mới cung cấp cho ta tư liệu về đời bà đầy đủ như thế này.
Tôi tin rằng bà quyết định làm công việc này là do tình cờ mà ra. Nếu bà vẫn còn ở bên Nhật, chắc cuộc sống của bà sẽ hết sức bận bịu, bà không thể nào tính đến chuyện viết hồi ký được. Thế nhưng, vào năm 1956, hoàn cảnh đã đưa đẩy bà Sayuri di cư sang Hoa Kỳ. Bà đã ở tại khách sạn Waldorf ở New York 40 năm, bà biến căn hộ ở trên tầng thứ 32 của khách sạn này thành một ngôi nhà theo kiểu Nhật tuyệt đẹp. Nhưng cuộc sống của bà ở đây cũng rất nhộn nhịp, căn hộ của bà luôn luôn có nhiều nghệ sĩ, trí thức, doanh nhân Nhật lui tới – thậm chí có cả các ông Bộ trưởng trong nội các và một vài găng tơ nữa. Mãi cho đến năm 1985, nhờ có người quen giới thiệu, tôi mới gặp được bà. Là người nghiên cứu về nước Nhật, tôi đã biết tên tuổi của Sayuri, nhưng hầu như tôi không biết tí gì về bà hết. Nhờ tình bạn ngày càng thắm thiết, bà tin tưởng vào tôi. Một hôm, tôi xin phép bà cho tôi viết về câu chuyện đời bà.
Bà trả lời tôi:
– Được thôi, Jakob-san, nếu ông đích thân ghi âm lời kể của tôi.
Thế là chúng tôi bắt đầu công việc. Sayuri nói rằng bà muốn đọc hồi ký hơn là viết, vì bà đã quen nói mặt đối mặt với người khác, chứ bà không biết cách viết lách ra sao khi ngồi một mình trong phòng. Tôi đồng ý, và bản thảo của tôi đã được bà đọc cho chép 18 tháng liền. Tôi không rành tiếng thổ ngữ ở Kyoto của Sayuri – như các nàng geisha được dân ở đấy gọi là geiko, áo kimono thì được kêu là Obebe – nên khi bắt tay vào việc, tôi đã phải rất vất vả mới dích được đúng nghĩa của chúng. Ngay từ đầu, tôi đã bị thế giới của bà cuốn hút. Chúng tôi thường gặp nhau vào các buổi tối, vì theo thói quen lâu ngày của Sayuri, buổi tối là lúc tinh thần của bà linh họat nhất. Thường bà thích làm việc trong căn phòng của bà ở khách sạn Waldorf Towers, nhưng thỉnh thỏang chúng tôi gặp nhau trong căn phòng riêng tại một nhà hàng Nhật nằm trên đại lộ Park Avenue, ở đây mọi người đều biết bà. Những buổi làm việc của chúng tôi thường kéo dài hai hay ba giờ. Mặc dù chúng tôi thu băng lời lẽ của bà, nhưng buổi làm việc nào cũng có người thư ký của bà ở đấy để ghi chép, và cô ta đã ghi chép rất trung thực. Nhưng Sayuri không nói vào máy ghi âm hay nói với cô thư ký, bà luôn luôn nói với tôi. Khi bà không nhớ mình đã nói đến đâu, tôi là người nhắc cho bà nhớ. Tôi xem mình như nền móng của ngôi nhà, và tôi cảm thấy nếu tôi không có được lòng tin của bà, thì chắc không bao giờ bà kể ra câu chuyện này.
Điều khiến chúng tôi thắc mắc nhất là tại sao bà Sayuri muốn kể ra câu chuyện này? Không có luật lệ chính thức nào buộc giới geisha giữ im lặng, nhưng họ đã quen với điều này rồi. Giới geisha không kể những chuyện đã xảy ra với họ cho người ta ghi chép. Giống như gái điếm, giới geisha thường phải đứng vào vị trí bất thường không nên đả động đến người này người nọ đã mua vui với họ. Loài bướm đêm này phải giữ được niềm tin nơi khách hàng của họ thì họ mới có lợi, bằng không, họ sẽ gặp nhiều điều không hay. Trường hợp bà Sayuri kể ra chuyện của mình là vì không có ai ở nước Nhật có khả năng khiển trách bà được nữa. Sợi dây ràng buộc bà với quê cha đất tổ đã bị cắt đứt. Điều này ít ra phần nào đã cho chúng tôi biết lý do tại sao bà không cần phải giữ im lặng, nhưng họ cũng không cho chúng tôi biết tại sao bà muốn kể lại. Tôi sợ không dám hỏi bà lý do này, nhỡ ra bà thận trọng mà đổi ý thì sao. Thậm chí bản thảo đã hòan tất rồi mà tôi cũng không dám hỏi. Chỉ sau khi bà đã thỏa thuận với nhà xuất bản rồi, tôi mới thấy an tâm để hỏi:
– Tại sao bà muốn kể lại chuyện đời bà?
– Không kể thì tôi làm gì cho hết thì giờ? – bà đáp.
Cái lý do đơn giản như thế này có đúng hay không, tôi xin nhường lại quyền nhận định cho bạn đọc.
Mặc dù Sayuri đồng ý kể lại chuyện đời bà, nhưng bà vẫn đưa ra một số điều kiện. Bà muốn tác phẩm được in ra khi bà đã qua đời và các nhân vật quan trọng có liên quan đến đời bà không còn nữa. May thay, sô nhân vật này đã chết trước bà. Bà lo sợ việc cuốn sách ra đời sẽ khiến họ hoang mang bối rối. Tên các nhân vật trong truyện một số được giữ nguyên, một số được bà Sayuri giấu đi bằng cách chỉ gọi biệt danh của họ, như ông “Mưa tuyết” chẳng hạn.
Khi tôi yêu cầu bà Sayuri dùng máy ghi âm để ghi lại lời kể của bà, là tôi cốt đảm bảo việc dịch lại câu chuyện của bà cho chính xác. Tuy nhiên, từ ngày bà mất vào năm ngóai, tôi nhận ra việc ghi âm còn mang một ý nghĩa khác, là nó giữ lại giọng nói của bà – giọng nói biểu cảm mà tôi hiếm khi được nghe thấy từ người khác. Bây giờ, mỗi lần mở băng ghi âm ra để nghe lại giọng nói của bà, tôi thấy khó mà tin được việc bà đã từ giã cuộc đời này.

Jakob Haarhuis
Arnold Rusoff Giáo sư lịch sử Nhật
Đại học New York           

 

Đời kỹ nữChương 1

 

Giả sử anh và tôi đang ngồi trong một căn phòng yên tĩnh, nhìn ra khu vườn, uống trà xanh, nói chuyện gẫu, nhắc lại chuyện xưa, và tôi nói với anh: “Chiều hôm ấy tôi gặp một chuyện như thế này này… Đó là một buổi chiều tuyệt vời nhất, đồng thời cũng là một buổi chiều tệ hại nhất trong đờI tôi.” Tôi nghĩ thế nào anh cũng để tách trà xuống và nói: “Sao, chuyện gì kỳ cục thế? Chuyện gì mà vừa tuyệt vời mà lại vừa tệ hại?” Lẽ ra tôi phải cười mình và đồng ý với anh. Nhưng đúng là buổi chiều hôm ấy tôi gặp ông Tanaka Ichiro, và ông ta đã làm một chuyện vừa tuyệt vời nhất vừa tệ hại nhất. Khi gặp ông ta, mặc dù hai tay ông hôi mùi cá, nhưng tôi vẫn thấy ông rất hấp dẫn. Nếu tôi không gặp ông ta, chắc tôi sẽ không bao giờ trở thành geisha được.
Tôi không phải được sinh ra và nuôi nấng để trở thành geisha ở Kyoto. Tôi cũng không phải sinh ra ở Kyoto. Tôi là con một ngư phủ trong một thị trấn có tên Yoroido nằm trên biển Nhật Bản. Suốt đời tôi rất ít khi nói cho ai nghe chuyện về thi trấn Yoroido, hay nói về ngôi nhà tôi ở tại đấy, hay nói về bố mẹ tôi, nói về người chị của tôi – và đương nhiên không nói về hoàn cảnh tôi trở thành geisha như thế nào, hay cuộc đời của một ngườI geisha ra sao. Chắc nhiều người tưởng rằng mẹ tôi và bà ngọai tôi đều geisha cả và chắc họ đã nghĩ rằng tôi tập ca múa ngay từ khi thôi bú mẹ. Cách đây nhiều năm, khi tôi rót rượu sakê mời khách, tình cờ ông ta cho tôi biết mới tuần trước đó ông ta đã ở tạI Yoroido. Trời, tôi cảm thấy mình như con chim bay qua đại dương tìm về tổ ấm, đã đụng phải con vật khác chiếm mất tổ của mình. Tôi quá kinh ngạc, không sao ngăn thốt lên lời:
– Yoroido à, tôi lớn lên ở nơi đấy ấy!
Tội thay cho ông ta! Mặt ông ta méo xệch trông đến tức cười! Ông ta muốn cười mà không cười được vì bất ngờ và kinh ngạc.
– Ở Yoroido à? – Ông ta hỏi – Không ai tin bà đâu!
Tôi cười ruồi với ông. Từ lâu tôi đã tập được nụ cười mà tôi gọi là “nụ cười của thần Noh”, vì nụ cười giống như nụ cười vẽ trên mặt nạ thần Noh, một nụ cườI lạnh lùng. Nụ cười này có ưu thế là đàn ông muốn hiểu sao cũng được, tùy họ; tôi thường dùng nụ cười này để trả lời họ. Tôi nghĩ tốt hơn hết là tôi nên dùng nụ cười này, vì nó rất hữu hiệu. Ông ta thở dài rồi nốc hết vào miệng cốc sakê tôi vừa rót, trước khi cất tiếng cười ha hả. Nghe tiếng cười, tôi đoán ông ta đã cảm thấy khoái trá…
– Ý nghĩa tuyệt đấy chứ – ông ta nói và lại cất tiếng cười ha hả – Bà lớn lên trong đống rác như ở Yoroido. Chẳng khác nào pha trà trong cái xô! – Ông ta lại cười và nói tiếp – vì thế mà bà rất khôi hài, bà Sayuri ạ, đôi lúc bà làm tôi tin những lờI nói đùa của bà là thật.
Tôi không muốn nghĩ mình là tách trà pha trong cái xô, nhưng dù sao tôi vẫn thấy đấy là chuyện thực. Nói tóm lại, tôi đã lớn lên ở Yoroido, và không ai cho đấy là một nơi quyến rũ. Không ai đến thăm nơi đấy. Còn người dân sống ở đấy, không làm sao có cơ hội ra đi. Có lẽ anh muốn biết làm sao mà tôi ra đi được. Thì đây, tôi bắt đầu câu chuyện ấy cho anh nghe đây:
Trong ngôi làng đánh cá nhỏ ở thị trấn Yoroido, tôi sống trong túp lều mà tôi vẫn gọi là “ngôi nhà ngà say”. Nhà ở gần một vách núi đá, nơi gió từ biển luôn luôn thổi vào. Khi còn nhỏ, tôi cứ nghĩ là biển bị cảm lạnh rất khủng khiếp, vì nó thường thở khò khè và có lúc hắt xì rất mạnh – hắt xì làm bắn gió vào nhà chúng tôi. Tôi nghĩ ngôi nhà nhỏ của chúng tôi thỉnh thoảng bị biển hắt xì vào mặt, rồi dừng lại một lát như thể nó muốn tranh thủ thời gian để lấy lại sức. Nếu bố tôi không lấy một cột buồm nơi chiếc thuyền đánh cá bị chìm để chống vào một bên chái, thì có lẽ ngôi nhà đã sập từ lâu, và cảnh ngôi nhà có cột chống bên chái trông như một lão già ngà say đang chống cái nạng vậy.
Tôi đã sống cuộc đời chệch choạng trong ngôi nhà ngà say này. Vì ngay khi còn bé, tôi đã rất giống mẹ tôi, không giống bố tôi và chị tôi chút nào hết. Mẹ tôi nói rằng tôi và mẹ tôi rất giống nhau – mà quả đúng như thế, nhất là cặp mắt, mắt của chúng tôi rất đặc biệt, không có ai ở Nhật có cặp mắt giống chúng tôi như thế. Thay vì có màu nâu đen như mắt mọi người, mắt mẹ tôi có màu xám trong, và mắt của tôi cũng thế. Khi tôi còn nhỏ, tôi nói với mẹ rằng chắc có ai thọc một lỗ trong mắt của mẹ để cho mực trong mắt của mẹ chảy ra hết, lời nói của tôi làm mẹ vui vui. Giới bói toán cho rằng mắt mẹ tôi có màu bạc như thế vì mẹ tôi mạng Thủy, mà có nhiều nước quá thì bốn yếu tố khác trong ngũ hành không hiện ra. Cho nên họ cho vì thế mà các nét khác trên mặt bà so với cặp mắt rất xấu. Dân làng nói đáng ra bà rất hấp dẫn mới phảI, vì bố mẹ bà đều đẹp. Đúng là trái đào thì đẹp rồi, quả nấm cũng đẹp, nhưng đem cả hai ghép lại với nhau thì không xong; đây quả là điều trớ trêu kinh khủng mà tạo hóa áp đặt lên bà. Bà có cái miệng trề ra của mẹ, nhưng lại mang cái hàm vuông của bố, khiến cho người ta cảm thấy những nét duyên dáng của bà bị nằm trên khuôn mặt quá nặng nề. Còn cặp mắt xám xinh đẹp của bà có hai hàng mi rậm viền chung quanh, chắc là giống bố, nhưng nhờ thế mà trông bà càng hấp dẫn hơn.
Mẹ tôi thường nói bà lấy cha tôi vì bà có nhiều nước còn ông thì có nhiều gỗ trong người. Những người biết cha tôi đều hiểu rõ mẹ tôi muốn nói cái gì. Nước thì chảy khắp nơi và tìm chỗ nứt để thoát ra ngoài. Còn gỗ thì trái lại, rễ mọc sâu xuống đất. Trong nghề của cha tôi, mạng Mộc là tốt nhất, vì ông là dân đánh cá, mà người có gỗ trong người, sẽ xoay sở trên mặt biển rất thoải mái.
Đúng như vậy, bố tôi rất thoải mái trên biển, thoải mái hơn bất kỳ chỗ nào và không bao giờ xa biển lâu. Ông có mùi của biển ngay cả sau khi tắm rửa xong. Khi ông không đánh cá, ông ngồi mạng lưới đánh cá trên nền nhà của căn phòng tối tăm phía trước. Nếu cái lưới đánh cá là một sinh vật đang ngủ, thì chắc ông cũng không làm cho nó thức dậy vì tốc độ làm việc của ông quá rù rờ. Ông làm việc gì cũng rù rờ như thế. Ngay khi ông tập trung vào công việc, thì chúng tôi chạy đi tắm, khiến ông nhăn mặt càu nhàu. Mặt của ông nhăn nhúm kinh khủng, và trên mỗi vết nhăn chồng chất một nỗi buồn phiền lo âu, cho nên nhìn vào mặt ông, người ta không thấy đó là khuôn mặt nữa mà là một thân cây mang nhiều tổ chim trên cành cây. Ông phải thường xuyên phấn đấu để giải tỏa các lo âu buồn phiền ấy, và vì quá cố gắng nên trông ông lúc nào cũng xơ xác.
Khi tôi được sáu, bảy tuổi, tôi mớI được biết một ít về bố tôi. Một hôm tôi hỏI ông:
– Bố này, sao bố già quá như thế?
Nghe hỏi, ông nhướng cao mày, cặp lông mày của ông khi ấy trông giống như cặp dù nhỏ giương ra che cặp mắt bên dưới. Rồi ông buông tiếng thở dài, lắc đầu và đáp:
– Bố không biết.
Khi tôi quay qua phía mẹ, bà nhìn tôi với ánh mắt như muốn nói với tôi rằng bà sẽ cho tôi biết vào một dịp khác. Ngày hôm sau, không nói một tiếng, bà dẫn tôi xuống đồi vào làng, rồi đi theo một con đường dẫn đến nghĩa địa nằm trong rừng. Bà dẫn tôi đến ba ngôi mộ nằm trong góc nghĩa địa, có ba tấm bia trắng cao hơn người tôi. Trên mộ bia có những chữ màu đen vụng về từ đỉnh bia đến chân bia, nhưng chỉ vì đi học trong trường làng một thờI gian ngắn, nên tôi không đủ sức đọc hết các chữ viết trên bia mộ. Mẹ tôi chỉ vào hàng chữ và nói:
– Natsu, vợ của Sakamoto Minoru – Sakamoto Minoru là tên cha tôi – chết năm 24 tuổI vào năm thư 19 Minh trị Thiên hòang – Rồi bà chỉ vào tấm mộ bia bên cạnh: Jinichiro, con trai của Sakamoto Monoru, chết năm sáu tuổi, vào năm thứ 19 Minh trị Thiên hòang, – rồi chỉ vào tấm bia kế bên, tấm bia giống cái trước, chỉ khác cái tên là Masao, và tuổi thì mới lên ba. Tôi đứng ngẩn ngơ một lát mới hiểu ra là cha tôi đã có một đời vợ trước và cả gia đình ông ấy đã chết hết. Mấy hôm sau tôi trở lạI thăm các ngôi mộ ấy, tôi đứng nhìn, lòng nặng trĩu buồn phiền. Tôi đứng như chôn chân tại chỗ, không rời đi được, như thể mấy ngôi mộ kia đã níu tôi ở lại với họ.
Với người mạng Thủy và người mạng Mộc, đáng ra bố mẹ tôi hạp mạng nhau, dung hòa cho nhau để sinh ra những đứa con có tư chất tốt đẹp mới đúng. Đàng này họ lại sinh ra những đứa con, đứa thì giống mẹ, đứa thì giống cha. Thực ra tôi không giống mẹ tôi, tôi chỉ giống đôi mắt khác thường của bà thôi, còn chị tôi, Satsu, giống bố tôi như đúc. Satsu lớn hơn tôi sáu tuổi, và dĩ nhiên vì lớn hơn tôi nên chị có thể làm những việc mà tôi không làm nổi. Nhưng chị Satsu có đặc tính là làm việc gì cũng bộp chộp, thường gây ra tai nạn. Ví dụ có ai biểu chị múc một tô canh trong nồi đang nấu trên lò lửa, thì chị sẽ đi múc ngay, nhưng chị múc canh từ nồi vào tô với vẻ lanh chanh được chăng hay chớ. Một lần chị bị con cá làm rách da, chị gói con cá trong giấy, mang dưới làng lên đồi, thì bỗng con cá trượt ra, rơi dưới chân, cái vi cá đâm thẳng vào chân làm rách da chị.
Chắc bố mẹ tôi muốn có thêm con ngoài Satsu và tôi ra, nhất là vì bố muốn có con trai để đi đánh cá với ông. Nhưng khi tôi lên bảy tuổi thì mẹ tôi đau nặng, có lẽ bà bị ung thư xương, nhưng lúc ấy tôi chẳng biết là bệnh gì hết. Bà chỉ có cách duy nhất để khỏi thấy đau đớn là ngủ, nhưng bà chỉ ngủ như con mèo ngủ mà thôi – nghĩa là chập chờn lúc ngủ lúc thức. Càng ngày bà càng ngủ nhiều, và khi thức dậy bà lại rên. Tôi nghĩ chắc cơ thể bà biến chuyển nhanh, nhưng vì người bà có nhiều nước nên tôi thấy tình hình có vẻ không đáng lo. Thỉnh thoảng bà gầy đi vài tháng rồI lấy lại sức liền sau đó. Nhưng năm tôi lên chín tuổi thì xương mặt bà trơ ra, và sau đó bà không lấy lại được da thịt như cũ. Tôi không nhận ra được căn bệnh đã làm cho bà khô nước. Y như loài rong biển vốn mọng nước, nhưng khi phơi khô, nó dòn ra, dễ gẫy, mẹ tôi càng lúc càng khô hết nước.
RồI đến một buổi chiều, tôi đang ngồi chơi vớI con dế mà tôi bắt được hồi sáng trên nền nhà lỗ chỗ ở phòng trước tối tăm, thì bỗng có tiếng người gọi trước cửa:
– Này, mở cửa ra! Có bác sĩ Miura đến!
Bác sĩ Miura mỗi tuần đến làng đánh cá của chúng tôi một lần, ông cố gắng leo lên đồi khám cho mẹ tôi kể từ ngày bà lâm bệnh. Hôm ấy có bố tôi ở nhà vì trờI có bão lớn. Ông đang ngồi ở chỗ mọi khi, hai bàn tay to tướng xòe ra lồng vào cái lưới đánh cá. Ông ngước mắt nhìn tôi rồi đưa ra một ngón tay. Như thế tức là ông muốn tôi ra mở cửa.
Bác sĩ Miura là người rất quan trọng – hay như mọi người trong làng tôi tin như thế. Ông học ở Tokyo và theo như người ta cho biết, ông biết nhiều chữ Hán hơn bất kỳ người nào. Ông ta rất kiêu hãnh, không thèm chú ý đến một người như tôi. Khi tôi mở cửa, ông tháo giày ra rồi bước thẳng vào nhà.
– Sao, Sakamoto-san – ông nói với bố tôi – ước gì tôi có cuộc sống như bác, suốt ngày đánh cá ngòai biển. Tuyệt biết bao! Và khi gặp biển động, bác ngồi ở nhà nghỉ ngơi. Chắc vợ bác còn ngủ – ông nói tiếp – Thật tội nghiệp. Tôi đến để khám bệnh cho bà ấy đây.
– Ồ thế à? Bố tôi nói.
– Tuần sau tôi không đến được. Bác làm ơn đánh thức bà ấy dậy được không?
Bố tôi gỡ tay ra khỏi lưới một lát mới xong, rồi ông đứng lên nói với tôi:
– Chiyo-chan, rót cho bác sĩ một tách trà.
Tên tôi lúc ấy là Chiyo. Mãi đến nhiều năm sau người ta mới biết đến tên Sayuri khi tôi đã thành geisha.
Bố tôi và ông bác sĩ đi vào nơi mẹ tôi nằm ngủ. Tôi đứng ngoài cố lắng nghe, nhưng chỉ nghe tiếng mẹ tôi rên mà thôi, chứ không nghe thấy họ nói gì hết. Tôi đi pha trà, và một lát sau ông bác sĩ bước ra, hai tay thoa vào nhau, mặt trông rất căng thẳng. Bố tôi đi theo ông, hai người đến bộ bàn kê giữa phòng.
– Bác Sakamoto này – bác sĩ Miura nói- đã đến lúc tôi phải nói chuyện này cho bác biết . Có lẽ bác phải xuống làng để nói chuyện với bà Sugi mới được. Bác hãy nhờ bà ấy may cho bác gái chiếc áo mới.
– Thưa bác sĩ, tôi không có tiền – Bố tôi đáp.
– Tất cả chúng ta ai cũng nghèo hết, tôi biết điều bác nói ra là đúng. Nhưng bác phải may áo mới cho vợ bác, vì bác không nên để vợ bác mặc chiếc áo dài rách tả tơi như thế mà chết.
– Vậy bà ấy sắp chết rồi sao?
– Có lẽ trong vài tuần nữa thôi. Bà ấy đau đớn ghê gớm lắm. Cái chết sẽ giải thoát cho bà.
Tiếp theo, tôi không nghe được hai ngườI nói gì với nhau nữa, vì tai tôi ù lên như nghe tiếng đập cánh hoảng sợ của một con chim. Có lẽ đấy là tiếng đập của con tim tôi, tôi không biết có phải không. Nhưng nếu anh đã thấy một con chim bị mắc bẫy trong tiền sảnh một ngôi đền, cố tìm cách thoát thân, thì chắc anh hiểu được tâm trạng của tôi lúc ấy, tôi cũng hoảng sợ như thế đấy. Chưa bao giờ tôi tự hỏi đời tôi sẽ ra sao nếu như bà chết đi. Bây giờ tôi tự hỏi như thế cũng như tôi tự hỏi nếu nhà tôi bị động đất phá sập, thì tôi sẽ sống ra sao. Nếu chuyện như thế này xảy ra, đời tôi hẳn là khốn khổ lắm.
– Tôi cứ nghĩ là tôi sẽ chết trước bà ấy cơ chứ – Bố tôi nói.
– Bác già nhưng bác có sức khỏe tốt, bác Sakamoto à. Bác có thể sống thêm bốn, năm năm nữa. Tôi để lại thêm thuốc cho bà ấy. Nếu bác cho uống, bác hãy cho uống một lần hai viên.
Họ nói chuyện về thuốc men một hồi lâu, rồI ông Miura ra về. Bố tôi vẫn ngồi yên tại chỗ, im lặng, lưng quay về phía tôi. Ông không mặc áo, để lộ làn da nhăn nheo, nhão nhoẹt; càng nhìn ông bao nhiêu, tôi càng thấy ông giống như là bộ sưu tập tác phẩm nghệ thuật bấy nhiêu. Xương sống thì nổI u thành một hàng dài. Cái đầu dơ bẩn biến sắc trông giống như trái cây bầm thối. Hai cánh tay khẳng khiu da bọc xương trông như hai cái que lủng lẳng dưới hai cục bướu. Nếu mẹ tôi chết, làm sao tôi sống được với ông trong ngôi nhà này nhỉ? Tôi không muốn xa ông, nhưng dù ông có mặt ở nhà hay không, thì khi mẹ tôi mất đi, ngôi nhà sẽ trống vắng vô cùng.
CuốI cùng, bố tôi thì thào gọi tên tôi. Tôi đến quỳ xuống bên ông.
– Việc rất quan trọng – ông nói.
Mắt ông buồn xo, cặp mắt thất thần, lơ láo như thể ông đã mất trí. Tôi cứ tưởng thế nào ông cũng nói cho tôi biết mẹ sắp chết. nhưng ông chỉ nói:
– Con hãy xuống làng mua nhang về thắp bàn thờ.
Bàn thờ Phật nhỏ xíu của chúng tôi để trên cái thùng cũ bên cạnh cửa đi xuống nhà bếp; đây là thứ đáng giá duy nhất trong ngôi nhà ngà say của chúng tôi. Trước bức tượng A Di Đà chạm trổ vụng về, tượng Phật ở Tây Phương cực lạc, sắp những chiếc bài vị sơn đen nhỏ ghi pháp danh những vị tổ tiên quá cố của chúng tôi.
– Nhưng thưa bố, không mua gì thêm nữa à?
Tôi tưởng ông sẽ trả lời nhưng ông chỉ vẫy tay ra hiệu cho tôi đi đi.
Con đường từ nhà tôi xuống làng phải chạy theo mép chân vách đá sát bờ biển, rồI mới rẽ vào bên trong. Đi trên con đường này vào một hôm như hôm ấy quả thật khó khăn, nhưng tôi nhớ nhờ gió thổi mạnh khủng khiếp mà tôi quên bớt những nỗi bực dọc đau đớn trong lòng. Biển động mạnh, sóng lớn đánh vào bờ ào ào như những lưỡi dao chặt vào đá. Tôi cảm thấy thiên nhiên đồng cảm với tôi. Phải chăng cuộc đời chẳng khác nào cơn bão táp, nó cuốn trôi tất cả những gì mớI có đó trước mắt ta và để lạI nhiều thứ đổ vỡ kỳ lạ mà ta không hiểu nổi. Trước đó tôi chưa bao giờ có ý nghĩ như thế. Để khỏi nghĩ đến chuyện đổ vỡ này, tôi đâm đầu chạy cho đến khi ngôi làng xuất hiện trước mắt. Yoroido là một thị trấn nhỏ, nằm ngay trên cửa vịnh. Thường ngày người ta thấy trên mặt biển có nhiều ngư dân, nhưng hôm ấy tôi chỉ thấy có vài chiếc thuyền đánh cá chạy vào bờ, về phía cửa vịnh, trông như những con bọ vùng vẫy trên mặt nước . Cơn bão bỗng trở nên dữ dội, tiếng gầm rú vang lên bên tai tôi. Các ngư dân trong vịnh chìm ngập dưới màn mưa lớn, rồI họ biến mất dưới bầu trờI mù mịt. Tôi thấy cơn bão đẩy cao mặt nước lên bờ giốc ào đến phía tôi. Bọt nước bắn vào tôi như những trứng chim cút, và thoáng một cái, tôi bị ướt mèm như rớt xuống nước vậy.
Yoroido chỉ có một con đường duy nhất, chảy thẳng tới cửa chính của công ty Hải sản ven biển Nhật Bản, hai bên đường có một số nhà cửa, mặt tiền được dùnglàm cửa hàng buôn bán. Tôi chạy băng qua đường đến cửa hàng Okada, nơi bán đồ khô, nhưng bỗng tôi gặp chuyện bất thường xảy đến – chuyện bất ngờ tai hại thường xảy đến cho ta, như là trượt chân nhào đầu trước đoàn tàu. Mặt đường đất nện cứng ướt nước mưa nên trơn trợt, tôi bị trượt chân trên mặt đường. Tôi té ngã, mặt đập xuống đường. Tôi choáng váng đầu óc, người tê cóng và miệng đầy vị mằn mặn, tôi cảm thấy muốn nhổ nước trong miệng ra. Tôi nghe có nhiều tiếng người rồi cảm thấy người ta lật ngửa tôi ra và mang tôi đi. Tôi nghĩ họ mang tôi vào trong công ty Hải sản ven biển Nhật Bản, vì tôi ngửI thấy mùi cá đóng gói quanh tôi. Tôi nghe có tiếng người ta hất mấy bao cá đánh bịch xuống sàn cho trống chiếc bàn gỗ để có chỗ cho tôi nằm trên mặt bàn nhớp nhúa. Tôi biết tôi ướt mèm vì nước mưa, máu chảy ướt cả người, và tôi biết hai bàn chân tôi trần truồng, dơ bẩn, áo quần thì quê mùa. Điều tôi không biết là chính lúc ấy đời tôi thay đổi. Vì chính trong tình trạng như thế, tôi thấy tôi ngước mắt nhìn vào mặt ông Tanaka Ichiro.
Trước đây tôi đã thấy ông Tanaka ở trong làng nhiều lần rồi. Ông ta ở trong một thị trấn lớn, gần thị trấn của chúng tôi, nhưng hàng ngày ông đến đây vì gia đình ông làm chủ công ty Hải sản ven biển Nhật Bản. Ông ta không mặc quần áo quê mùa như dân đánh cá, nhưng ngoài áo kimono đàn ông ra, ông còn mặc thêm quần kimono, khiến ông trông giống như các hiệp sĩ trên các tờ báo vậy. Da ông căng láng như mặt trống, hai gò má nhô lên láng bóng như da của một con cá nướng dòn. Lúc nào tôi cũng thấy ông rất hấp dẫn. Mỗi khi tôi nô đùa với đứa trẻ khác ngoài đường mà trông thấy ông Tanaka từ trong công ty HảI sản đi ra, là tôi ngừng chơi để nhìn ông đã.
Tôi nằm yên trên bàn trong khi ông Tanaka nhìn vào môi tôi, ông đưa ngón tay kéo môi tôi xuống rồi nghiêng đầu tôi qua bên này rồi bên kia. Bỗng ông nhìn vào mắt tôi, đôi mắt xám của tôi đang giương to nhìn ông với vẻ kinh ngạc, tôin nhìn thẳng vào mặt ông chứ không giả vờ nhìn đi chỗ khác khi ông nhìn tôi. Ông ta không có vẻ muốn la mắng tôi vì tôi là đứa bé xấc xược, và ông cũng không nhìn đi chỗ khác như thể ông chẳng cần để ý tôi nhìn đi đâu hay tôi suy nghĩ gì. Tôi và ông ta nhìn nhau một hồi – một hồi thật lâu khiến tôi cảm thấy ớn lạnh, mặc dù không khí trong công ty Hải sản thật ấm áp.
Cuối cùng ông ta nói:
– Ta biết cháu. Cháu là con gái út của lão Sakamoto.
Mặc dù tôi còn nhỏ, nhưng tôi nghĩ rằng ông Tanaka đã bình tĩnh để nhìn thế giới quanh mình chứ không như bố tôi, bố tôi nhìn thế giới với con mắt đờ đẫn. Tôi thấy ông ta quan sát thế giới rất kỹ, ông thấy được nhựa cây thông chảy ra, thấy vòng ánh sáng của mặt trời sau lớp mây che. Ông ta thấy thế giới hữu hình, mặc dù thế giới này thường không làm cho ông ta thỏa mãn. Tôi nghĩ ông ta chú ý đến cây cối, bùn lầy, và những đứa bé trên đường, và tôi tin chắc không bao giờ ông ta chú ý tới tôi.
Có lẽ vì thế mà khi nghe ông ta nói với tôi, tôi cảm thấy mình rưng rưng muốn khóc.
Ông Tanaka nâng tôi ngồI dậy. Tôi tưởng ông sẽ bảo tôi đi ra khỏi cửa hàng, nhưng ông bỗng nói với tôi:
– Này cháu, đừng nuốt máu trong miệng vào bụng đấy nhé. Trừ phi cháu muốn có một viên đá trong bụng. Nếu ta là cháu, ta sẽ nhổ máu xuống nền nhà.
– Nhổ máu con gái xuống nền nhà à, ông Tanaka? – một người làm ăn với ông ta nói – Nhổ xuống chỗ mà chúng tôi sẽ mang cá vào à?
Như anh biết đấy, ngư dân rất mê tín dị đoan. Nhất là họ không thích phụ nữ có dính dáng đến chuyện đánh cá của họ. Trong làng tôi có một người tên Yammura, một buổi sáng ông ta bắt gặp đứa con gái đang chơi trong thuyền đánh cá của mình. Ông lấy gậy đánh cô bé một trận rồi lấy rượu sakê và nước tro đậm đặc để tẩy uế chiếc thuyền. Thế mà vẫn chưa đủ, ông ta còn mời ông thầy pháp ở đền thờ thần đến cúng tế nữa. Ông ta làm thế chỉ vì con gái ông ta chơi ở chỗ chứa cá đánh được. Còn ở trong nhà hàng của ông Tanaka, ông ta bảo tôi nhổ máu xuống nền nhà là nơi cá mua vào sẽ được làm ruột và rửa ráy cho sạch.
– Nếu anh sợ máu của cô ta làm ô uế số cá của anh, – Ông Tanaka đáp – thì anh cứ đem về nhà. Tôi có nhiều rồi.
– Không phải là vấn đề làm cá ô uế không thôi đâu, thưa ngài.
– Tôi cam đoan với anh là máu của cô ta nhổ ra tinh khiết nhất có thể dùng để tẩy uế nền nhà này. – Nói xong, ông Tanaka quay qua nói với tôi – Nhổ đi cháu. Nhổ ra.
Tôi ngồi trên chiếc bàn bẩn thỉu, không biết phải làm gì. Tôi nghĩ, nếu không vâng lời ông Tanaka thì chắc không yên thân, nhưng tôi tin chắc là tôi không đủ can đảm để nhổ máu trong miệng ra nếu không có một người cúi mình, đè một ngón tay lên một bên lỗ mũi tôi để tôi hỉ mũi xuống sàn nhà. Sau khi thấy thế, tôi không thể nào ngậm máu trong miệng lâu hơn nữa, tôi nhổ máu xuống nền nhà ngay sau khi ông Tanaka khiến tôi phải nhổ ra. Tất cả đàn ông đều bất bình bước ra khỏi phòng, trừ ông phụ tá của ông Tanaka, ông ta tên là Sugi. Ông Tanaka bảo ông Sugi đi mời bác sĩ Miura đến.
– Tôi không biết tìm ông ta ở đâu – ông Sugi nói, nhưng theo tôi thì ông ta có vẻ không muốn làm giúp việc này.
Tôi nói cho ông Tanaka biết ông bác sĩ mới ở nhà tôi cách đây mấy phút.
– Nhà cháu ở đâu? – Ông Tanaka hỏi.
– Ngôi nhà nhỏ ngà say nằm trên sườn núi đá.
– Cháu nói “ngôi nhà ngà say” …là như thế nào?
– Vì ngôi nhà dựa nghiêng trên một chiếc cột như thể nó đã nhậu quá say.
Ông Tanaka có vẻ không hình dung được ngôi nhà như thế nào. Ông nói với ông Sugi:
– Sugi, anh đi đến ngôi nhà ngà say của ông Sakamoto để tìm bác sĩ Miura cho tôi. Anh tìm ông ta không khó khăn gì đâu. Anh chỉ lắng nghe tiếng la hét của bệnh nhân khi ông ta chữa cho họ, là anh sẽ tìm ra ông ấy thôi.
Tôi cứ tưởng khi ông Sugi đi rồi, thế nào ông Tanaka cũng đi làm việc của mình, nhưng ông không đi mà cứ đứng bên cái bàn nhìn tôi một hồi lâu. Tôi cảm thấy mặt nóng ran. Cuối cùng ông ta nói sang một chuyện mà tôi cảm thấy lo lắng:
– Cháu bị nổi u trên mặt rồi, ái nữ của lão Sakamoto ạ.
Ông ta đến tủ lấy ra cái gương nhỏ để đưa cho tôi xem. Môi tôi sưng lên một cục bầm tím, đúng y như ông ta đã nói.
– Nhưng điều tôi cần biết – ông ta nói tiếp – là tại sao cặp mắt cháu quá tuyệt vời như thế, và tại sao cháu không giống bố cháu chút nào hết?
– Cặp mắt cháu giống mẹ – tôi đáp – còn phần bố cháu, không hiểu tại sao ông lại quá nhăn nheo đến thế.
– Rồi đến ngày nào đấy cháu cũng sẽ nhăn nheo như thế.
– Nhưng một số nếp nhăn là do bố tạo ra. Phía sau đầu của bố cũng già như phía trước, nhưng trông láng lẩy như quả trứng.
– Nói về bố mình như thế là bất kính đấy – ông Tanaka nói với tôi – nhưng tôi nghĩ đúng là thế đấy.
Rồi ông ta nói sang chuyện khác khiến tôi đỏ mặt tía tai, và chắc là môi tôi tái mét.
– Làm sao một ông già nhăn nheo có một cái đầu như quả trứng mà sinh được một cô gái xinh đẹp như cháu?
Tôi nhớ từ đó về sau tôi thường được người ta gọi là người đẹp. Nhưng các cô geisha thường được gọi là người đep, thậm chí các cô không đẹp cũng được gọi là người đẹp. Nhưng khi ông Tanaka nói với tôi như thế, trước khi tôi nghe ngườI ta gọi các cô geisha là người đẹp, tôi hầu như tin đây là sự thực.
Sau khi bác sĩ Miura khâu môi lại cho tôi, tôi đi mua nhang cho bố tôi, rồi tôi về nhà với tâm trạng nôn nao khó tả, tôi nghĩ khi ấy mà tôi đứng bên ổ kiến lửa, tôi cũng không thấy bồn chồn trong dạ như thế. Nếu khi ấy mà tôi cảm thấy tôi đến gần ổ kiến lửa, thì chắc tôi đã khỏe trí rồi, nhưng đàng này lòng tôi lại không được đơn giản như thế. Tôi đã bị dao động như mảnh giấy quay lông lốc trong cơn gió. Xen kẽ vào những ý nghì lo sợ về bệnh trạng của mẹ tôi – xen kẽ vào cảm giác khó chịu vì cái môi sưng vù – là cảm giác dễ chịu, cảm giác này chốc chốc lại hiện ra trong óc tôi. Đó là cảm giác về ông Tanaka. Tôi dừng lại trên sườn núi đá, đưa mắt nhìn ra biển, mặc dù cơn bão đã ngớt, nhưng sóng vẫn lớn như những tảng đá sắc bén, và bầu trời xám xịt màu bùn. Tôi nghĩ chắc không có ai ở gần đấy để nhìn tôi, nên tôi ôm chặt bó nhang vào ngực và gọi tên ông Tanaka, lờI gọi của tôi bay vào gió, và tôi cảm thấy hân hoan sung sướng khi nghe tiếng gọi của tôi vang vọng trong gió như tiếng nhạc lòng. Tôi nghĩ hành động gọi tên ông ta là hành động điên cuồng – vì quả những âm thanh vang lên bên tai tôi nghe điên khùng thật. Nhưng khi ấy tôi chỉ là một đứa con gái còn nhỏ lâm đã vào tình trạng bối rối.
Sau khi chúng tôi ăn cơm tối xong, bố tôi đi xuống làng để xem các ngư dân chơi cờ Nhật, Satsu và tôi lặng lẽ lau chùi nhà bếp. Tôi cố nhớ cảnh ông Tanaka đã đối xử với tôi, nhưng ngôi nhà lạnh lẽo vắng lặng quá làm cho cảm giác này biến khỏi óc tôi. Nhưng tôi cứ nghĩ đến bệnh tình của mẹ tôi và tôi cảm thấy buồn da diết. Tôi tự hỏi không biết bao lâu nữa bà sẽ được chôn ngoài nghĩa địa bên cạnh vợ con trước của bố tôi. Rồi sau đó số phận của bố tôi sẽ ra sao? Tôi nghĩ khi bà mất rồi, chị Satsu sẽ đảm nhiệm vai trò của bà. Tôi nhìn chị chùi cái soong nấu canh bằng sắt – cái soong này nằm ngay trước mặt chị – mặc dù mắt chị nhìn đăm đăm vào cái soong, nhưng tôi biết chắc chị không trông thấy nó. Cái soong đã sạch bóng rồi mà chị vẫn tiếp tục chùi nó. Thấy thế tôi nói với chị:
– Chị Satsu, em thấy khó chịu trong người.
– Đi nấu nước mà tắm, – chị ấy nói với tôi, chị đưa một bàn tay ướt lên hất dúm tóc lòa xòa trước trán.
– Em không muốn tắm – tôi nói – Chị Satsu này, mẹ sắp chết rồi.
– Cái soong này nứt rồi. Nhìn này!
– Nó không phảI nứt đâu. Cái đường ấy có ở đó từ lâu rồi.
– Nhưng tại sao nước chảy ra ở đây?
– Chị làm bắn nước ra đấy. Em thấy chị làm bắn nước ra.
Bỗng tôi thấy chị Satsu có vẻ căng thẳng, như thể chị bị hốt hoảng, mặt chị hiện ra vẻ sững sờ như có điều gì đấy đang làm cho chị nghĩ ngợI, mơ đến, khiến cho chị quên hết công việc trước mắt. Nhưng chị không nói gì với tôi nữa. Chị chỉ lấy cái soong trên bếp rồi đi ra cửa, để nó xuống trên đống soong nồi.
          

 

Đời kỹ nữ(Memoires of a geisha)Chương 2

 

Sáng hôm sau, để thư giãn tâm hồn, tôi đi bơi ở cái hồ nằm sâu trong cánh rừng thông. Mỗi khi thời tiết tốt, trẻ con trong làng thường đến đấy để bơi lội vui chơi. Chị Satsu thỉnh thoảng cũng đến tắm, và chị mặc cái áo tắm thô tháp được chị may từ quần áo đánh cá cũ kỹ bố tôi bỏ ra. Chiếc áo tắm này bất tiện ở chỗ mỗI khi chị cúi mình là thụng xuống để hở cả ngực và bọn con trai liền réo lên: “Tụi bay ơi đến xem núi Phú Sĩ!” Thế nhưng chị vẫn kệ, chị vẫn mặc.
Gần trưa tôi về nhà để kiếm cái gì ăn khỏi đói bụng. Chị Satsu về trước tôi một lát, chị đi với anh chàng Sugi, con trai của người phụ tá cho ông Tanaka. Chị ấy như con chó chạy theo anh ta. Khi đi đâu, anh ta chỉ việc quay đầu nhìn lui, ra dấu cho chị đi theo, thế là chị đi theo liền. Tôi cứ tưởng đến bữa cơm tối mới gặp lại chị, nhưng không ngờ khi về đến gần nhà, tôi thấy chị đứng tựa ngườI vào gốc cây bên đường. Nếu khi ấy anh thấy cảnh tượng này, thì hẳn anh biết chuyện gì, nhưng tôi chỉ là một đứa bé còn thơ ngây. Tôi đứng lại nhìn: Satsu kéo cái áo tắm lên vai, còn anh chàng Sugi thì đang đùa nghịch với cái “núi Phú Sĩ” của chị ấy.
Từ ngày mẹ tôi bắt đầu lâm bệnh, chị tôi lớn xồ ra, lùn và mập. Bộ ngực chị đồ sộ còn mái tóc thì bù xù dày cộm. Tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi thấy mái tóc bù xù và bộ ngực đồ sộ của chị làm cho anh chàng Sugi khoái. Anh ta lấy tay lắc lắc hai cặp vú sang một bên rồi thả ra cho bầu vú trở về chỗ cũ. Tôi không muốn rình mò hai người, nhưng họ đã chắn mất đường về của tôi, khiến tôi không thể đi tiếp tục, rồI bỗng thình lình tôi nghe thấy tiếng người phía sau tôi cất lên:
– Kìa cháu Chiyo, tại sao cháu ngồi chồm hổm sau gốc cây thế?
Tôi nhớ khi ấy tôi mới là đứa bé lên chín vừa mới đi bơi ở hồ về, tôi nhớ thân hình tôi chưa có chỗ nào nẩy nở để phải che dấu, nên chắc anh dễ đoán lúc ấy tôi ăn mặc áo quần ra sao rồi.
Khi quay lại – tôi vẫn ngồi chồm hổm ở giữa đường, lấy hai tay cố che thân thể trần truồng của mình – tôi thấy ông Tanaka đứng gần sau tôi. Tôi quá bối rối.
– Chắc ngôi nhà ngà say của cháu ở đàng kia phải không? – Ông ta nói – Và trước mắt ta trông ai giống con trai nhà Sugi thế? Hắn có vẻ say sưa không biết trời đất là gì hết. Còn cô gái đứng với anh ta là ai vậy?
– À, có lẽ là chị cháu đấy thưa ông Tanaka. Cháu ngồi đợi cho hai người đi khỏi.
Ông Tanaka úp hai tay lên miệng làm loa, rồi la lớn lên, tôi liền thấy Sugi ba chân bốn cẳng chạy mất, chắc chị tôi cũng đã chạy đi, vì tôi nghe ông Tanaka bảo tôi về nhà mặc áo quần được rồi. Trước khi tôi đi, ông ta đưa cho tôi một gói giấy bồi to bằng đầu con cá và nói:
– Thuốc Bắc đấy. Nếu bác sĩ Miura chê không có hiệu nghiệm thì cháu đừng tin. Cháu nói với chị cháu pha thuốc vào nước trà rồi đưa cho mẹ cháu uống, thuốc sẽ làm giảm đau. Thuốc này rất quý, đừng có vứt nó đi đấy nhé.
– Tốt hơn là cháu phải tự làm lấy mới được, thưa ông. Chị cháu pha trà tệ lắm.
– Bác sĩ Miura cho ta biết là mẹ cháu bị bệnh – ông ta nói – Này cháu nói là chị cháu pha trà tệ, không đáng tin à? Cha cháu thì già, rồi cháu sẽ ra sao, Chiyo? Ai sẽ chăm sóc nuôi nấng cháu?
– Cháu nghĩ bây giờ cháu phải tập lo liệu lấy thôi.
– Tôi có biết một cậu như cháu. Bây giờ anh ta lớn rồi, nhưng khi anh ta bằng tuổi cháu, bố anh ta mất, năm sau mẹ anh ta cũng mất, người anh cả bỏ đi đến Osaka, để cậu bé một mình ở nhà. Xem tình hình của cháu giống cậu ấy quá. Cháu có lo không?
Ông Tanaka nhìn tôi như thể muốn nói với tôi rằng chớ có coi thường hoàn cảnh của mình.
– Tên chú bé ấy là Tanaka Ichiro – ông ta nói tiếp. – chú bé ấy chính là tôi, nhưng vào lúc ấy tôi tên là Morihashi Ichiro. Tôi được gia đình Tanaka đem về làm con nuôi lúc tôi 12 tuổi. Khi khôn lớn tôi được họ gả con gái cho, và được chính thức thành con cái trong nhà. Bây giờ tôi phụ giúp để điều khiển công ty Hải sản của gia đình. Và cuối cùng tôi có được cuộc sống khấm khá, chắc cháu biết rồi. Có lẽ rồi cháu cũng có được cuộc sống khấm khá cho mà xem.
Tôi đưa mắt nhìn mái tóc đốm bạc của ông Tanaka rồi nhìn những vết nhăn trên trán ông ta, trông như những đường rãnh trên vỏ cây. Tôi thấy ông ta có vẻ là người khôn ngoan nhất, sành sỏi nhất trên đời. Tôi nghĩ ông ta biết những chuyện mà tôi không bao giờ biết được, và tôi nghĩ ông ta là một người thanh lịch, chắc tôi không bao giờ được như ông ta, và tôi tin là chiếc kimono màu xanh trên người ông ta là chiếc áo đẹp nhất mà chắc tôi không bao giờ có cơ hội để mặc những chiếc áo đẹp như thế. Tôi ngồi trước mặt ông ta, vẫn ngồi chồm hổm trên mặt đất, tóc tai rối bù, mặt mày nhớp nhúa, da thịt rít rất hôi hám vì mùi nước hồ. Tôi đáp:
– Cháu nghĩ chắc không ai nhận cháu làm con nuôi đâu.
– Không à? Không nhận một cô gái thông minh lanh lợi như cháu à? Không nhận một cô gái đã gọi nhà mình là “ngôi nhà ngà say” và cho đầu bố mình như “cái trứng” à?
– Nhưng quả cái đầu bố cháu giống như quả trứng thật.
– Phải là người thông minh mớI biết so sánh như thế. Thôi bây giờ cháu hãy chạy nhanh về nhà, Chiyo. Cháu phải ăn trưa chứ? Cháu hãy về cho đúng giờ ăn kẻo bị vét nồi đấy.
Ngay từ giờ phút ấy tôi bắt đầu mơ tưởng đến chuyện ông Tanaka sẽ nhận tôi làm con nuôi. Không làm sao tôi quên được nỗi khổ tâm của tôi trong thời gian này. Tôi nghĩ bất cứ ai đề nghị cho tôi cuộc sống khấm khá yên ổn là tôi chấp nhận ngay. Thường mỗi khi khổ tâm như thế, tôi lại nhớ đến hình ảnh mẹ tôi trước ngày bà lâm bệnh khá lâu, cơn bệnh làm cho bà đau đớn phải rên la vào những buổI sáng. Khi ấy tôi bớI 4 tuổI, chuyện xảy ra vào ngày lễ “Obon” của làng chúng tôi, lễ đón vong hồn của những người đã chết. Sau mấy buổi tối làm lễ ở ngoài nghĩa địa và đốt lửa trước các cổng nhà để dẫn các vong hồn về nhà, chúng tôi mới tụ tập ở đền thờ thần vào đêm cuối cùng của đợt lễ hội, ngôi đền nằm trên ngọn núi đá nhìn ra vịnh. Sau cổng đền là một cái sân rộng, đêm đó trong sân người ta trang hòang lồng đèn giấy đủ màu, lồng đèn được treo trên những sợI dây căng giữa các thân cây. Mẹ tôi và tôi cùng múa với các dân làng một lát, múa theo nhịp trống và tiếng sáo trúc; nhưng cuốI cùng tôi mệt và mẹ tôi ẵm tôi ra đứng ở mép sân. Bỗng gió từ vách núi đá thổI đến và một cây đèn lồng bắt lửa. Chúng tôi nhìn ngọn lửa cháy theo sợi dây, sợi dây đứt, và chiếc lồng đèn rớt xuống đất, nhưng gió thổi chiếc lồng đèn lăn trên mặt sân chạy về phía chúng tôi, để lại đàng sau một đường bụi lửa màu vàng. Quả cầu lửa dừng lạI một lát, rồi bị gió thổi tung lên và bay thẳng vào chúng tôi. Tôi thấy mẹ tôi thả tôi ra rồi hươ hai tay xua quả cầu lửa ấy đi. Bỗng chúng tôi bị lửa táp vào người, nhưng rồi quả lửa vỡ ra thành từng mảnh nhỏ và bay phân tán vào các gốc cây, cháy hết và không có ai bị phỏng cả – ngay cả mẹ tôi cũng không.
Quãng hơn một tuần sau, khi lòng mơ tưởng của tôi là ông Tanaka sẽ nhận tôi làm con nuôi đến độ chín muồi, một buổI chiều khi về nhà, tôi thấy ông ta ngồi đối diện với bố tôi ở bộ bàn nhỏ trong nhà. Tôi nghĩ họ nói chuyện gì đấy rất nghiêm trọng, vì khi tôi bước qua cửa, hai người không thèm chú ý đến tôi. Tôi dừng lại bên cửa để nghe họ nói gì.
– Đấy, bác tính sao về lời đề nghị của tôi, bác Sakamoto?
– Thưa ngài, tôi không biết – bố tôi đáp – Tôi không nghĩ đến chuyện để cho các con gái của tôi đi sống chỗ khác.
– Tôi biết, nhưng đi xa nhà, các cô sẽ được sống sung sướng hơn, và chắc bác cũng đỡ hơn. Nếu bác đồng ý thì chiều mai bác cho các cô ấy xuống làng gặp tôi.
Nói xong ông Tanaka đứng dậy ra về. Tôi giả vờ làm như mới về đến nhà và gặp ông ta ở cửa. Ông ta nói:
– Cháu Chiyo, tôi vừa mới nói chuyện với bố cháu về cháu đấy. Nhà tôi ở bên kia triền núi thị trấn Senzuru, thị trấn ấy lớn hơn Yoroido. Tôi nghĩ cháu sẽ thích bên ấy. Ngày mai cháu và chị cháu sang chơi được chứ? Cháu sẽ thấy nhà tôi và gặp con gái út của tôi. Cháu ở lại đêm được chứ? Ở lại một đêm cho biết rồi tôi sẽ đưa cháu về lại nhà. Như thế được chứ?
Tôi trả lời rất sung sướng được đến thăm nhà ông ta. Tôi cố làm ra vẻ như không nghe nói gì đến chuyện khác thường cả. Nhưng đầu óc tôi quay cuồng, lòng tôi bấn loạn, không làm sao định tâm được. Một phần tôi hết sức mong mỏi được ông Tanaka nhận làm con nuôi, một phần tôi rất lo sợ. Tôi cảm thấy quá xấu hổ khi nghĩ tới chuyện phải đến sống ở một nơi gần ngôi nhà ngà say của tôi. Sau khi ông Tanaka ra về rồi, tôi xuống bếp cố làm vài công việc lặt vặt, nhưng tôi cảm thấy mình rất giống chị Satsu, nghĩa là tay thì làm việc nhưng mắt thì không nhìn thấy gì hết. Tôi không biết tình trạng như thế diễn ra bao lâu. Tôi chỉ biết sau cùng tôi nghe thấy tiếng bố tôi hỉ mũi, Tôi nghĩ ông khóc và tôi cảm thấy mặt tôi nóng phừng phừng vì xấu hổ. Tôi bèn ngước mắt nhìn thì lại thấy hai tay ông đã lồng vào trong lưới đánh cá, và ông đang đứng ở cửa đi vào buồng phía sau, nơi mẹ tôi nằm dưới tấm chăn được đắp trên tấm thân gầy đét.
Ngày hôm sau chúng tôi chuẩn bị xuống làng để gặp ông Tanaka. Tôi kỳ cọ các mắt cá chân cho sạch đất, rồI ngồi ngâm nước trong bồn tắm hồi lâu. Bồn tắm của chúng tôi là một cái nồi nấu nước sôi lấy từ đầu máy chạy hơi nước cũ mà người ta đã vứt đi, chúng tôi lấy về, cưa phần bên trên đi rồi lót ván vào bên trong để làm bồn tắm. Tôi ngồi trong bồn thật lâu, đưa mắt nhìn ra biển, lòng cảm thấy thảnh thơi vui sướng vì sắp được thấy thế giới bên ngoài làng của tôi lần đầu tiên trong đời.
Khi chị Satsu và tôi đến công ty Hải sản Ven biển Nhật Bản, chúng tôi thấy các ngư phủ đang trút cá họ đánh bắt được lên cầu tàu. Bố tôi có mặt trong số họ, ông bỏ cá vào những cái giỏ, hai bàn tay xương xẩu. Ông đưa mắt nhìn chúng tôi một lát, rồi quay đi lấy ống tay áo lau mặt. Tôi thấy nét mặt của ông buồn bã hơn mọi khi. Đám ngư dân mang những chiếc giỏ cá đẩy đến cỗ xe ngựa của ông Tanaka, chất lên xe ở phía sau. Tôi leo lên bánh xe để nhìn vào trong toa. Những con cá giương mắt trong veo nhìn trời đất, nhưng có con há miệng nhóp nhép như chúng đang than khóc. Tôi lên tiếng nói như để trấn an chúng:
– Cá ơi, bọn bay sẽ được đến thị trấn Senzuru, mọi việc sẽ được ổn thỏa hết thôi.
Tôi thấy nói sự thật với chúng không hay ho gì.
Cuối cùng ông Tanaka từ trong Công ty đi ra, ông ta bảo chị Satsu và tôi lên xe, chúng tôi leo lên chiếc ghế dài ở trước toa xe. Tôi ngồi ở giữa gần ông Tanaka, rất gần đến độ người tôi chạm vào chiếc áo kimono của ông, tôi không khỏI làm sao đỏ mặt khi chạm tay vào áo ông ta. Chị Satsu nhìn tôi, nhưng chị có vẻ như không thấy gì hết, mặt chị trông thẫn thờ như mọi khi. Xe đã chạy đi một đọan dài mà tôi vẫn quay mặt nhìn đám cá phía sau toa xe. Khi xe leo lên triền núi để ra khỏi địa phận Yoroido, bánh xe bỗng vấp phải một viên đá khiến toa xe nghiêng về một bên, một con cá lớn trong giỏ văng ra ngòai và rơi xuống đất thật mạnh đến nỗi làm cho nó hồi sinh. Thấy con cá vùng vằng, há miệng nhóp nhép, lòng tôi quặn thắt lại đau đớn. Nước mắt tôi trào ra, và tôi phải quay mặt đi nhìn ra chỗ khác, nhưng mặc dù vậy, ông Tanaka vẫn thấy tôi khóc. Sau khi lấy lạI con cá, xe tiếp tục lên đường. Khi ấy ông Tanaka hỏi tại sao tôi khóc.
– Con cá tội nghiệp quá! – tôi đáp.
– Cháu giống vợ tôi đấy. Khi bà ấy thấy chúng, mặc dù đã chết, bà ấy vẫn chảy nước mắt và cầu nguyện cho chúng.
Ông Tanaka dạy cho tôi bài ca ngắn, bài ca là một đọan kinh cầu nguyện tôi nghĩ chắc vợ ông sáng tác ra. Bài ca cầu nguyện cho cua, nhưng chúng tôi thay chữ thành ra cầu nguyện cho cá:
Suzuki yo suzuki!
Jobutsu shite Kure!
Cá nhỏ ơi cá nhỏ!
Mong mày chóng về cõi Phật!

Rồi ông ta dạy tôi bài ca khác, bài hát ru em mà tôi chưa từng được nghe. Chúng tôi hát để ru ngủ một con cá bơn nằm trong chiếc giỏ thấp ở phía sau chúng tôi, cặp mắt con cá như hai hột nút, đảo qua đảo lại.
Ngủ đi ngủ đi cá bơn ơi!
Khi tất cả ngủ hết rồii
Cho đến cả chim chóc và cừu
Trong vườn và ngòai đồng
Thì sao đếm trên trờI
Sẽ rót ánh bạc
Qua cửa sổ

Một lát sau chúng tôi lên đến đỉnh triền núi, và tôi thấy thị trấn Senzuru hiện ra phía dưới trước mặt tôi. Hôm ấy trời u ám, buồn bã, mọi vật hiện ra dưới ánh sáng lò mờ xám xịt. Lần đầu tiên tôi thấy cảnh vật ngoài Yoroido, và tôi cảm thấy không nhớ nhung quê hương gì mấy. Từ trên cao tôi thấy những mái nhà tranh trong thị trấn nằm bao quanh con vịnh nhỏ. Chen lấn giữa những ngọn đồi đìu hiu, và xa hơn, tôi thấy biển có màu chì lấp lánh ánh bạc trên đầu những ngọn sóng. Trong nội địa, phong cảnh trông khá hữu tình, nhưng những con đường xe lửa chạy qua trông như những vết thẹo.
Senzuru là một thị trấn dơ bẩn, hôi hám. Thậm chí nước biển cũng có mùi hôi khủng khiếp, như thể trong nước có nhiều cá chết bốc mùi xú uế, quanh các cột ở bến tàu, xác rau nổi lềnh bềnh như xác sứa trong con vịnh nhỏ ở làng chúng tôi. Thuyền bè bị trầy trụa, có chiếc mạn thuyền gỗ nứt nẻ nhiều nơi, trông vào người ta có cảm tưởng thuyền bè bị va chạm vào nhau rất dữ dội.
Chúng tôi ngồi trên bến tàu một hồi lâu cho đến khi ông Tanaka gọi chúng tôi vào trong trụ sở chính của công ty Hải sản Ven biển Nhật Bản, rồi dẫn chúng tôi đi dọc theo một hành lang dài. Nếu chúng tôi chưa bao giờ quen với mùi ruột cá, thì chắc khi đi trên hành lang này chúng tôi sẽ không thấy nơi nào có mùi cá hôi hám như thể này. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi đi hết hành lang, đến văn phòng làm việc, tôi thấy văn phòng đẹp đẽ biết bao đối với con mắt của một đứa bé lên chín như tôi.
Satsu và tôi đi chân trần, đứng trên nền nhà bằng đá, sàn nhà lầy nhầy nhớp nhúa. Trước mắt chúng tôi là một tầng cấp dẫn lên một cái bệ có trải nhiều chếu cói. Có lẽ căn phòng này khi ấy đã gây cho tôi nhiều ấn tượng mạnh, nền nhà nâng cao lên khiến cho tôi thấy bất cứ cái gì trong phòng cũng trở thành to lớn hơn. Khi ấy tôi nghĩ đó là căn phòng đẹp nhất trần đời – nhưng bây giờ nhớ lại tôi thấy rất buồn cười, vì đấy chỉ là căn phòng dùng làm văn phòng của một người lái buôn cá trong một thị trấn nhỏ ven biển Nhật Bản, thử hỏi làm sao có người kinh ngạc như tôi hồi ấy!
Trên bệ có một bà già ngồi, khi thấy chúng tôi, bà ta đứng dậy, bước xuống quỳ bên mép nệm. Bà ta già và trông rất kỳ quặc. Tôi nghĩ chắc anh chưa bao giờ gặp một người nào loay hoay như vậy. Khi không vuốt áo kimono cho phẳng thì bà ta lau cái gì đó bên khóe mắt hay là gãi lỗ mũi, cứ thở dài như thể bà ta bực mình vì có nhiều chuyện làm cho bà ta phải loay hoay suốt.
Ông Tanaka nói vớI bà ta:
– Đây là cháu Chiyo, còn đây là chị của cô bé, cô Satsu.
Tôi khẽ cúi mình chào bà ta. Bà Loay Hoay gật đầu chào lại rồi bà thở dài đưa tay cào miếng vá cứng trên cổ. Tôi muốn quay mắt nhìn đi chỗ khác, nhưng mắt bà ta cứ dắn chặt vào tôi.
– Thì ra cháu là Satsu hả? – Bà ta hỏi, mắt vẫn dán chặt vào tôi.
– Tôi là Satsu. – Chị tôi đáp.
– Cháu mấy tuổi rồi?
Hình như chị Satsu không biết bà Loay Hoay hỏi ai, nên tôi lên tiếng trả lời cho chị ấy. Tôi đáp:
– Chị ấy tuổi Sửu.
Bà già đưa tay vỗ vào má tôi, nhưng bà ta vỗ với một thái độ rất đặc biệt, mấy ngón tay của bà thọc vào quai hàm tôi nhiều lần, Tôi nghĩ bà ta muốn vỗ về tôi vì tôi thấy ánh mắt của bà ta có vẻ rất trìu mến.
– Cháu này đẹp hơn phải không? Cặp mắt khác thường quá. Và có vẻ thông minh nữa. Nhìn vầng trán cô bé thì biết! – Nói đến đây bà ta quay ra nhìn chị tôi và nói – Còn cô này, tuổi Sửu tức là 15 tuổI, sao kim, lục can, bạch tạng, hừm…Đến gần tí nữa xem nào.
Satsu làm theo lời bà ta nói. Bà Loay Hoay nhìn kỹ vào mặt chị, không những chỉ nhìn bằng mắt mà còn lấy ngón tay sờ vào người chị. Bà ta quan sát mũi chị thật lâu, nhìn theo nhiều góc độ khác nhau, rồi nhìn hai tai chị. Bà véo dái tai chị một hồi rồi nói bà đã quan sát chị xong, bây giờ đến phiên tôi.
– Cháu tuổi Thân, nhìn cháu là ta biết liền. Cháu có nhiều nước trong người quá! Bát can, bạch tạng, sao thổ. Cháu rất hấp dẫn. Nào đến gần hơn nữa để ta xem nào.
Bà ta tiến hành những việc như thể với tôi. Tôi phân vân không biết tại sao bà ta cứ cào vào miếng vá cứng trên cổ. Một lát sau bà ta đứng dậy, bước xuống trên nền đá, nơi chúng tôi đứng. Bà ta phải mất một thờI gian mới mang được đôi giầy vải vào đôi bàn chân cong queo, nhưng khi mang xong, bà quay qua nhìn ông Tanaka, ông ta hiểu ngay ý muốn của bà, ông rời khỏi phòng và đóng cửa lại. Bà Loay Hoay cởi chiếc áo nhà quê của Satsu ra. Bà ta lắc bộ ngực của Satsu, nhìn xuống dưới nách của chị ấy, rồi quay người chị để nhìn ở sau lưng. Tôi quá kinh ngạc, không thể tiếp tục nhìn vào người chị tôi được. Trước đó tôi đã từng nhìn thấy chị ở truồng, nhưng cái kiểu bà Loay Hoay xem xét cơ thể chị còn quá sỗ sàng hơn cái cảnh chị kéo áo tắm lên quá vai cho anh chàng Sugi xem nữa. Rồi như thể chưa vừa ý, bà tuột quần chị Satsu xuống tận nền nhà, nhìn lên nhìn xuống rồi quay người chị lại để nhìn ở phía trước.
– Bước ra khỏI quần đi – bà ta nói.
Mặt chị Satsu có vẻ bốI rối hơn trước, nhưng chị vẫn bước ra khỏi chiếc quần, để lại cái quần nằm yên trên nền đá lầy nhầy. Bà ta nắm lấy hai vai chị, ấn chị ngồi xuống trên bệ. Satsu hoàn toàn lõa thể, tôi chắc chị ấy cũng ngơ ngác như tôi, không biết bà ta bắt chị ngồi lên bệ để làm gì. Nhưng chị không có thì giờ để hỏi chuyện này, vì thình lình bà Loay Hoay để hai bàn tay lên đầu gối của Satsu rồi banh hai chân chị ra. Thấy thế, tôi quay mắt đi chỗ khác, không dám nhìn vào chị ấy nữa. Tôi nghĩ chắc chị Satsu chống lại vì tôi nghe tiếng bà Loay Hoay đánh vào chân chị Satsu, sau đó tôi thấy trên chân của chị có vết đỏ. Một lát sau bà Loay Hoay quan sát xong, bảo Satsu mặc áo quần vào. Vừa mặc áo quần vào Satsu vừa hít mũi thút thít. Chắc chị ấy khóc nhưng tôi không dám nhìn chị ấy.
Tiếp theo bà Loay Hoay bước đến phía tôi, bà tuột quần tôi xuống đầu gối, bà cởi áo tôi ra như hồI nãy bà ta đã làm với Satsu. Tôi không có ngực để cho bà lúc lắc, nhưng bà nhìn dưới nách tôi như đã nhìn chị tôi, rồi quay quanh người tôi trước khi đẩy tôi ngồi xuống bệ và kéo quần ra khỏi chân tôi. Tôi quá khủng khiếp trước những việc bà ta làm và khi bà ta cố banh hai chân tôi ra, bà ta đã đánh vào chân tôi như đánh vào chân chị Satsu khiến cho tôi phải nghẹn ngào trong họng vì cố nín khóc. Bà ta để một ngón tay giữa hai chân tôi và tôi cảm thấy như bà ta đã véo mạnh đến nỗi làm cho tôi phải khóc thét lên. Khi bà ta biểu tôi mặc quần áo vào, tôi cảm thấy rất sung sướng. Tôi sợ nếu chị Satsu và tôi khóc như con nít, chúng tôi sẽ rất ê mặt trước ông Tanaka.
Khi ông ta vào phòng lại, bà ta nói:
– Hai con này khỏe mạnh và rất xứng đáng. Cả hai đều còn trinh nguyên. Con chị có nhiều gỗ, còn con em thì có rất nhiều nước, Mà lại đẹp nữa, chắc ông thấy thế chứ? Con chị trông có vẻ quê mùa khi đứng bên cạnh con em.
– Tôi nghĩ cả hai đều đep. mỗi cô một nét – ông ta đáp – chúng ta bàn về chuyện này một lát khi tôi tiễn bà ra về nhé? Cứ để hai cố bé đợi tôi ở đây.
Khi ông Tanakađi ra và đóng cửa lại, tôi quay qua nhìn chị Satsu, chị ấy đang ngồi trên mép bệ, ngước mắt nhìn trần nhà. Vì chị ngẩng mặt lên nên nước mắt đọng thành vũng ngay đầu sóng mũi, và khi tôi thấy chị khóc, tôi cũng bật khóc. Tôi cảm thấy xấu hổ khi nhớ lại cảnh tượng vừa xảy ra, tôi lấy tay áo lau mặt cho chị ấy. Chị hỏi tôi :
– Mụ đàn bà khủng khiếp ấy là ai thế?
– Chắc là bà thầy bói. Chắc ông Tanaka muốn biết vận mạng của chúng ta để ông…
– Nhưng tại sao bà nhìn chúng mình với kiểu nhìn kinh khủng như thể ?
– Chị Satsu, chị không biết à? Ông Tanaka có ý định nhận nuôi chúng ta đấy!
Nghe tôi nói thế, chị Satsu nhấp nháy con mắt như thể có con bọ bay vào mắt chị. Chị hỏi:
– Em nói gì thế? Ông Tanaka không nhận nuôi chúng ta đâu.
– Bố quá già rồi, mà mẹ thì bệnh nặng. Em nghĩ ông Tanaka lo cho tương lai của chúng ta. Không có ai đứng ra để chăm sóc chúng ta hết.
Chị Satsu đứng dậy. Chị có vẻ rất dao động khi nghe tôi nói vậy. Chị liếc mắt nhìn tôi và trong ánh mắt của chị tôi thấy chị không tin rằng có người đến giúp đỡ chúng tôi thóat ra khỏI cuộc sống khốn khổ trong ngôi nhà ngà say. Chị có vẻ muốn xua đuổi những điều tôi vừa nói ra khỏi óc, như người ta vắt hết nước trong miếng xốp ra. Mặt chị từ từ trở lại bình tĩnh và chị ngồi trở xuống bên mép kệ. RồI chị đưa mắt nhìn quanh phòng như thể chúng tôi chưa nói với nhau cái gì hết.
Ngôi nhà của ông Tanaka nằm ở cuối con đường bên ngoài thị trấn. Quanh nhà có những hàng thông bao bọc, tỏa mùi thơm, như nhà tôi ở bên vách đá ven biển ngát mùi nước biển vậy. Khi tôi nghĩ đến biển và nghĩ đến chuyện thay đổi nơi có hương thơm này sang nơi có hương thơm khác , tôi cảm thấy lòng trống rỗng, dửng dưng như ngườI vừa đứng ở bờ núi đá ngắm biển trở về. Ngôi nhà ở đây lớn hơn ngôi nhà ở Yoroido nhiều, nhà có những cái chái đồ sộ như ở đền thờ thần ở làng chúng tôi. Khi ông Tanaka bước lên thềm cửa, ông ta để giày ngay trước thềm vì có chị ngườI ở đến lấy sắp ngay ngắn lên kệ cho ông. Satsu và tôi chẳng có giầy nên khỏi tháo ra, nhưng ngay khi chúng tôi sắp sửa bước vào trong nhà, tôi cảm thấy có cái gì đánh nhẹ vào bên hông tôi, rồi một trái thông rơi xuống nền nhà giữa hai chân tôi. Tôi quay qua thấy một cô gái chừng độ tuổI tôi, tóc cắt ngắn, chạy trốn sau một cái cây. Cô ta thò mặt ra cười với tôi, để lộ chiếc răng cửa bị sún, rồi cô bé bỏ chạy, quay mặt nhìn lui xem tôi có đuổi theo cô hay không. Chuyện như thế này xem ra có vẻ khác thường, chưa bao giờ tôi có dịp để hẹn hò với một cô gái nào khác. Dĩ nhiên, tôi có quen biết với bọn con gái trong làng, nhưng chúng tôi cùng sinh trưởng với nhau chứ chưa bao giờ có việc gọi là “hẹn hò” hết. Nhưng Kuniko – tên của cô con gái ông Tanaka – đã tỏ ra hết sức thân thiện ngay giây phút đầu tiên tôi thấy cô ta, cho nên tôi nghĩ tôi có thể chuyển dịch từ thế giới này sang thế giớI khác một cách dễ dàng.
Áo quần của Kuniko tân thời hơn áo quần của tôi nhiều, cô ta mang giày vải nữa; nhưng vì tôi là con gái làng, nên tôi đuổi theo cô ta với đôi chân trần qua khu rừng cây cho đến khi tôi bắt được cô ta tại một nơi gọi là nhà mát, nhà được làm từ những cành cây cưa ra từ một thân cây chết. Cô ta lấy đá và trái thông để sắp thành phòng. Trong một phòng, cô ta giả vờ mời tôi uống trà trong một cái tách rạn nứt; trong một phòng khác, chúng tôi thay phiên nhau để cho một con búp bê bú. Con búp bê là một cậu bé có tên Taro, búp bê được làm bằng bao vải tọng đất bên trong. Kuniko cho biết Taro thích có khách lạ, nhưng rất sợ giun đất, và có sự trùng hợp kỳ lạ là chính Kuniko cũng sợ giun đất. Khi gặp một con, Kuniko biểu tôi lấy ngón tay kẹp con giun lôi nó ra khỏi cậu Taro kẻo cậu khóc.
Tôi cảm thấy rất sung sướng khi nghĩ đến được làm chị em với Kuniko.
Thực ra, cảnh trí những hàng thông sừng sững tỏa mùi thơm – thậm chí cả ông Tanaka nữa – đối với tôi chẳng có nghĩa lý gì khi đem so với quê nhà tôi. Sự khác nhau giữa cuộc sống ở đây, tại nhà ông Tanaka, và cuộc sống ở Yoroido thật lớn lao như việc ngửi thức ăn khi nấu nướng và việc ăn thức ăn ngon trong miệng.
Khi trời tối, chúng tôi rửa tay chân bên giếng nước rồi đi vào nhà, đến ngồi trên nền nhà quanh một cái bàn vuông. Tôi bồi hồi nhìn mâm cơm trước mặt bốc hơi lên tận xà gỗ trên trần nhà cao, ánh đèn điện chiếu xuống trên đầu chúng tôi. Căn phòng sáng sủa làm cho tôi bang hoàng, chưa bao giờ tôi thấy được một cảnh tượng như thế này. Sau đó, gia nhân mang thức ăn vào – cá nướng, dưa chua, canh, và cơm nóng – nhưng ngay khi bắt đầu ăn, đèn phụt tắt. Ông Tanaka cười, chuyện tắt điện như thế này xảy ra rất thường. Gia nhân liền chạy đi thắp đèn lồng treo trên những giá gỗ.
Khi chúng tôi ăn, không ai nói chuyện nhiều. Tôi cứ tưởng bà Tanaka chắc đẹp lắm, nhưng bà ta chỉ như chị Satsu thôi, nhưng già hơn, ngoại trừ việc bà ta luôn luôn cười. Sau khi ăn xong, bà ta và Satsu chơi cờ, còn ông Tanaka bảo chị ở đem áo khoác kimono đến cho ông. Khi ông ra khỏi cửa một lát, Kuniko ra dấu cho tôi đi theo cô ra cửa. Cô ta mang giày rơm và cho tôi mượn một đôi. Tôi hỏi cô ta đi đâu, cô ta đáp:
– Im lặng. Chúng ta đi theo bố tôi. Khi nào ông ấy ra ngoài là tôi đi theo. Chuyện bí mật.
Chúng tôi đi trên một con đường nhỏ rồi rẽ vào con đường chính dẫn vào thị trấn Senzuru, theo sau ông Tanaka một đoạn. Đi một lát, chúng tôi đến một khu nhà đông đúc, trong thị trấn. Rồi Kuniko nắm tay tôi, lôi tôi đi vào một con đường hẻm. Đến cuối đoạn đường lát đá nằm giữa hai ngôi nhà, chúng tôi đến một cánh cửa sổ có phủ màn giấy, ánh sáng trong phòng chiếu ra lờ mờ. Kuniko đến dán con mắt vào lỗ thủng trên màn giấy, lỗ thủng bị xé rách ngang tầm mắt cô ta. Trong khi cô ta nhìn vào trong, tôi nghe trong phòng có tiếng người ta cười nói, có người hát và có tiếng đàn Shamisen đánh đệm. Cuối cùng, cô ta bước sang một bên cho tôi dán mắt vào lỗ thủng để nhìn vào bên trong. Một tấm chắn ngăn hai căn phòng nên tôi không thấy được gì bên sau hết, nhưng tôi thấy ông Tanaka ngồi trên chiếu với một nhóm ba bốn người đàn ông. Ông già ngồi bên cạnh ông Tanaka đang kể chuyện mình giữ cái thang cho một cô gái leo lên, và ông nhìn lên dưới áo dài của cô ta, mọi người đều cười, trừ ông Tanaka, ông ta đang nhìn về phía trước, phần nửa căn phòng đã bị tấm chắn che khuất tầm nhìn của tôi. Một bà già mặc áo kimono mang đến cho ông một cái ly để cho bà ấy rót rượu bia. Tôi thấy ông Tanaka như hòn đảo ngoài biển, vì mặc dù mọi người đều cười khi nghe câu chuyện – thậm chí bà già rót bia cũng cười – nhưng ông Tanaka vẫn chăm chú nhìn vào cuối chiếc bàn. Tôi quay mắt khỏi lỗ thủng để hỏii Kuniko đây là chỗ gì.
– Đây là phòng trà – cô ta đáp – nơi các nàng geisha giúp khách mua vui. Hầu như đêm nào bố tôi cũng đến đây. Tôi không hiểu tại sao ông ta lại thích cái trò này. Đàn bà rót rượu, đàn ông kể chuyện – ngoại trừ khi họ hát. Cuối cùng mọi người đều say.
Tôi dán mắt vào lỗ thủng lại, vừa lúc thấy trên vách hiện ra bóng người di động, rồi một phụ nữ hiện ra trước mắt tôi. Trên mái tóc của chị ta lủng lẳng một nhánh liễu xanh, và chị ta mặc chiếc kimono màu hồng nhạt co in hình những đóa hoa trắng. Dải thắt lưng rộng bản quanh bụng có màu cam và vàng. Chưa bao giờ tôi thấy ai mặc quần áo đẹp như thế. Không có phụ nữ nào ở Yoroido mặc đẹp như thế, hầu hết chỉ mặc áo vải, quá lắm là vải lanh trang trí đơn sơ với màu chàm. Quần áo đẹp nhưng người mặc thì không đẹp. Hàm răng chị ta hô ra khỏi môi và cái đầu lép kẹp như thể khi chị mới ra đời cái đầu bị ép giữa hai tấm ván. Anh có thể cho tôi là quá ác khi miêu tả chị ta tệ mạt như vậy; nhưng sự thực là thế, và điều làm cho tôi sững sờ nhất, là mặc dù chị ta không đẹp nhưng ông Tanaka dán mắt vào chị không rời như miếng giẻ móc vào cái móc câu. Trong khi mọi người cười đùa thì ông ta cứ nhìn chị đăm đăm, và khi chị quỳ xuống để rót thêm bia vào ly cho ông ta, chị ngước mắt nhìn ông với ánh mắt như thể hai người đã quen biết nhau rất thân thiết.
Kuniko nhìn qua lỗ hổng thêm lần nữa, rồi hai chúng tôi về nhà. Chúng tôi cùng vào ngồi trong bồn tắm ở mép rừng thông. Trời đầy sao rất đẹp, chỉ tiếc một nửa bị rừng thông che khuất. Tôi muốn ngồi mãi như thế để suy nghĩ đến những chuyện tôi đã thấy trong ngày, những việc này đã làm cho tôi kinh ngạc bàng hòang…Nhưng Kuniko ngồi ngủ gục trong nước ấm, cho nên các gia nhân phải đến giúp đưa chúng tôi vào nhà đi ngủ.
Khi Kuniko và tôi nằm xuống nệm trải trên nền nhà, thì chị Satsu đã ngáy khò khò, chị nằm bên cạnh chúng tôi, và hai chúng tôi nằm sát vào nhau, hai tay tréo vào nhau mà ngủ; tôi thấy người ấm áp và lòng cảm thấy hân hoan sung sướng, tôi nói nho nhỏ bên tai Kuniko:
– Bạn có biết chuyện mình sắp đến đây ở với bạn không? – tôi tưởng tin này sẽ làm cô ta ngạc nhiên phải mở mắt ra và ngồi dậy. Nhưng cô ta không tỏ vẻ gì là tỉnh ngủ. Cô ta chỉ ậm ờ gì đấy trong miệng và một lát sau hơi thở cô ta trở nên đều đặn có tiếng khò khè, chứng tỏ cô ta ngủ rất say.                                             

 

Đời kỹ nữ(Memoires of a geisha)Chương 3

 

Về lại nhà, tôi thấy bệnh tình của mẹ tôi có vẻ nặng hơn ngày tôi đi. Hay có lẽ ngày ra đi tôi sung sướng quá nên không để ý đến bệnh tình của mẹ tôi nặng nhẹ ra sao. Nhà ông Tanaka tràn ngập mùi khói và mùi thông. Còn ở nhà chúng tôi tòan mùi bệnh họan không thể tả được. Chị Satsu làm việc dưới làng cả buổi chiều, cho nên bà Sugi đến giúp tôi tắm rửa cho mẹ tôi. Khi chúng tôi mang bà ra khỏi nhà, lồng ngực bà lép kẹp còn hai vai thì so lại, và lòng trắng cặp mắt đục lờ đờ. Tôi sững sờ nhìn bà, lòng nhớ lại những ngày bà còn mạnh khỏe, bà thường tắm chung với tôi, mỗi khi bà bước ra khỏi bồn tắm, hơi nước bốc lên trên làn da trắng bạc của chúng tôi như thể hai chúng tôi là hai củ cải luộc. Tôi thật khó mà tin được người phụ nữ này, người mà tôi thường lấy đá bọt để kỳ cọ lưng cho bà , người mà da thịt còn rắn chắc, mượt mà hơn cả da thịt của Satsu, có thể chết trước khi mùa hè chấm dứt.
Đêm ấy, khi nằm trên nệm ngủ, tôi cố hình dung ra hòan cảnh sẽ xảy đến cho gia đình chúng tôi, tôi cố tin rằng dù sao tình hình cũng sẽ được ổn thỏa. Bắt đầu là tôi phân vân không biết khi mẹ tôi chết rồii, chúng tôi sẽ sống ra sao. Cho dù chúng tôi vượt qua được những khó khăn gian khổ, liệu ông Tanaka có nhận nuôi chúng tôi không? Cuối cùng tôi nghĩ rằng chắc ông Tanaka sẽ không nhận nuôi hai chị em tôi, mà bố tôi sẽ nuôi chúng tôi. Nói tóm lại, bô tôi không thể chịu được cảnh sống đơn côii một mình. Đêm nào tôi cũng suy nghĩ mông lung như thế cho đến khi tôi tin là kết quả sẽ y chang như thế. Lúc ấy tôi mới bắt đầu ngủ, và kết quả là tôi mất ngủ suốt mấy tuần liền, sáng nào dậy cũng bơ phờ mệt mỏi.
Một buổi sáng mùa hè nóng bức, khi tôi xuống làng mua gói trà và đang trên đường về nhà, bỗng tôi nghe có tiếng chân người đi lạo xạo phía sau lưng. Tôi quay lại thấy ông Sugi – phụ tá của ông Tanaka – đang hối hả đi lên đồi. Khi đến gần tôi, ông dừng lại một lát để thở, hai tay chống nạnh với vẻ giận dữ như thể ông vừa chạy một mạch từ Senzuru đến. Mặt ông đỏ bừng và bóng láng như con cá da trơn, mặc dù trời chưa nóng lắm. Cuối cùng ông ta nói:
– Ông Tanaka muốn cô và chị cô xuống làng ngay bây giờ.
Tôi sực nhớ là bố tôi sáng ấy không đi làm cá , và hiểu ra sự thể. Ngày trọng đại đã đến.
– Còn bố tôi thì sao? – Tôi hỏi – Ông Tanaka có nói gì đến bố tôi không?
– Đừng hỏi lôi thôi, cháu Chiyo – ông đáp – đi tìm chị cô và đi gấp cho rồi.
Tôi không thích đi chút nào hết, nhưng tôi vẫn chạy lên nhà và thấy bố tôi đang ngồi nơi bàn, lấy móng tay khươi bụi trong kẹt gỗ trên mặt bàn. Satsu đang bỏ than vào lò. Hai người có vẻ như trông chờ việc gì xảy đến.
Tôi nói:
– Bố à, ông Tanaka muốn con và chị Satsu xuống làng ngay bây giờ.
Satsu cởi tạp dề ra móc lên giá rồi đi ra cửa. Bố tôi không trả lời, nhưng ông nhấp nháy mắt mấy lần, nhìn theo chị tôi. Rồi ông quay cặp mắt lờ đờ nhìn xuống nền nhà và gật đầu. Tôi nghe tiếng mẹ tôi rên la trong giấc ngủ ở phòng sau.
Satsu xuống làng một lát thì tôi mới đến kịp. Tôi đà nghĩ đến ngày trọng đại từ mấy tuần rồi, nhưng hôm ấy tôi không ngờ tôi cảm thấy khiếp sợ đến như thế. Chị Satsu có vẻ không xem chuyện xuống làng hôm ấy khác lạ với lần xuống làng hôm trước. Thậm chí chị không bận tâm đến việc rửa tay cho sạch bụi than nữa, và trong khi vuốt tóc lại cho ngay ngắn, chị đã làm than vấy bẩn lên mặt. Tôi không muốn để chị gặp ông Tanaka với bộ mặt dơ bẩn như thế, nên tôi đưa tay chùi vết than trên mặt chị như mẹ chúng tôi thường làm. Satsu cáu kỉnh hất tay tôi ra.
Chúng tôi gặp ông Tanaka trước cửa công ti Hải sản, tôi cúi chào và chúc buổi sáng, lòng mong ông ta sung sướng khi thấy chúng tôi. Nhưng ông ta có thái độ rất lạnh lùng. Tôi nghĩ với thái độ lạnh nhạt của ông ta như thế này, phải chăng là dấu hiệu chứng tỏ mọi việc không diễn ra tốt đẹp như lòng mong ước của tôi. Khi ông ta dẫn chúng tôi đến toa xe do ngựa kéo, tôi nghĩ có lẽ ông đưa chúng tôi về nhà ông để vợ con ông đón chúng tôi trong phòng, rồi ông tuyên bố nhận nuôi chúng tôi.
Khi đến xe, ông nói với tôi:
– Ông Sugi ngồi ở trước xe với tôi, cho nên cháu và cô Shizu phải ngồi đàng sau – Ông ta chỉ nói có thế.
Ông ta gọi chị tôi là cô Shizu. Tôi nghĩ gọi sai tên chị tôi như thế quả là thô lỗ, nhưng chị ấy có vẻ không lưu tâm đến. Chị leo lên phía sau xe, ngồi xuống giữa đống giỏ đựng cá, để một bàn tay lên mặt ván lầy nhầy. Rồi bỗng chị đưa bàn tay ấy đập một con ruồi đậu trên mặt khiến một vết bẩn in hình lên má chị. Tôi ngao ngán khi thấy mặt Satsu nhớp nhúa như thế. Khi ấy tôi chỉ nghĩ đến mùi hôi hám tre6n toa xe, và tôi nghĩ đến cảnh sung sướng khi đến nhà ông Tanaka, được rửa ráy và được thay quần áo sạch.
Trên đường đi, Satsu và tôi không ai nói với nhau một lời, một tiếng cho đến khi xe lên đỉnh đồi nhìn xuống Senzuru, khi ấy bỗng chị thốt lên:
– Xe lửa kìa!
Tôi quay mặt nhìn, thấy chiếc xe lửa từ xa đang chạy về phía thị trấn. Khói tàu bay theo gió thành một đường dài khiên’ tôi nghĩ đến bộ da rắn được lột ra. Tôi nghĩ đây là một sự so sánh rất tài tình, nên tôi nói với chị Satsu, nhưng chị ấy không thèm lưu tâm đến. Tôi nghĩ chắc ông Tanaka sẽ khen sự so sánh của tôi, và chắc Kuniko cũng thế. Tôi định khi đến nhà ông Tanaka rồi, tôi sẽ nói ý này cho họ nghe.
Nhưng bỗng nhiên tôi nhận ra xe chúng tôi không chạy về hướng đến nhà ông Tanaka. Mấy phút sau, xe dừng lại trên một khỏang đất nằm bên cạnh đường xe lửa, ngòai thị trấn. Một đám đông đang đứng đấy, bên cạnh bao bị, thùng bệ của họ. Và gần đấy, tôi thấy bà Loay Hoay đang đứng bên cạnh một người đàn ông nhỏ loắt choắt mặc chiếc kimono thô cứng. Mái tóc ông ta den mịn như lông mèo, ông ta xách trên tay cái xách vải. Tôi hết sức kinh ngạc khi thấy ông ta đứng chen lấn với đám nông dân và ngư phủ ở một nơi ngòai thị trấn Senzuru như thế. Bên cạnh đám người này còn có một bà già còng lưng mang một ba lô đầy khoai mỡ. Bà Loay Hoay nói gì đấy với người đàn ông, ông ta quay lại nhi1n chúng tôi, bỗng tôi thấy sợ.
Ông Tanaka giới thiệu chúng tôi với người đàn ông này, tên ông ta là Bekku. Ông Bekku không nói gì mà chỉ nhìn tôi chằm chằm và có lẽ không hài lòng khi thấy chị Satsu.
Ông Tanaka nói với ông ta:
– Tôi đã dẫn ông Sugi đi theo tôi từ Yoroido đến đây. Ông có muốn để cho ông ấy đi theo ông không? Ông ấy quen biết với các cô này, tôi có thể để cho ông ấy đi theo một vài ngày.
– Thôii ,thôi – ông Bekku xua tay đáp.
Thật tôi không ngờ chuyện xảy ra như thế này. Tôi hỏi chúng tôi sẽ đi đâu, nhưng hình như không ai nghe tôi hỏi, cho nên tôi đành phải tìm cho mình một câu trả lời. Tôi nghĩ chắc ông Tanaka không hài lòng những gì mà bà Loay Hoay đã nói về chúng tôi, cho nên ông ta nhờ cái ông Bekku loắt choắt này dẫn chúng tôi đến một nhà chiêm tinh khác giỏi hơn để họ xem vận mệnh tương lai của chúng tôi ra sao, rôì sau đó sẽ đưa chúng tôi về nhà ông Tanaka lại.
Trong khi tôi đang cố nghĩ ra những điều hay ho để tự an ủi mình, thì bà Loay Hoay mỉm cười khả ái với tôi rồi dần tôi và chị Satsu ra xa một đọan. Khi chúng tôi đã đến một chỗ khá xa, những người khác không thể nghe được chúng tôi nói gì với nhau, thì nụ cười trên môi bà tắt đi và bà nói với chúng tôi:
– Này, nghe tao nói đây. Cả hai đứa bây là đồ hư hỏng! – Bà ta nhìn quanh để xem có ai nhìn theo chúng tôi không, khi không thấy ai nhìn theo, bà ta đánh lên đầu chúng tôi. Bà ta đánh không đau nhưng tôi bật khóc vì kinh ngạc. Bà ta nói tiếp – Nếu tụi bay làm gì quấy rầy tao, thì tao sẽ cho tụi bay biết tay đấy, Ông Bekku nghiêm khắc lắm, bọn bay phải tuyệt đối vâng lời ông ta! Nếu ông ta biểu bọn bay phải bò dưới ghiế ngồi trên tàu, bọn bay cũng phải bò, biết chưa?
Nhìn vẻ mặt dữ dằn của bà Loay Hoay, tôi nghì nếu tôi không trả lời thế nào tôi cũ!ng bị bà ta đánh. Nhưng vì tôi quá hỏang sợ nên tôi không mở miệng nói được nên lời. Và cũng vì tôi quá sợ nên bà ta đưa tay véo mạnh vào bên cổ tôi, khiến tôi không biết mình đau ở đâu nữa. Tôi cảm thấy như mình bị té vào ổ kiến lửa, bị kiến cắn khắp nơi, và tôi khóc thút thít. Sau cùng tôi thấy ông Tanaka bên cạnh chúng tôi.
– Chuyện gì thế? – Ông ta hỏi – Nếu bà có gì muốn nói thêm với các cô này, cứ nói trước mặt tôi đi. Không có lý do gì bà đối xử với các cô ấy như thế này.
– Tôi nghĩ là chúng tôi có nhiều điều cần nói với nhau, nhưng tàu đến rồii kìa – Bà Loay Hoay đáp. Và quả thật, tôi thấy con tàu hiện ra ở chỗ ngoặt cách đấy không xa.
Ông Tanaka dẫn chúng tôi về lại sân ga, nơi các nông dân và các bà già dang chuẩn bị mang đồ đạc để lên tàu. Rồi tàu dừng lại trước mặt chúng tôi. Ông Bekku, súng sính trong chiếc kimono cứng ngắc, chen vào giữa Satsu và tôi, ông ta nắm khuỷu tay chúng tôi dẫn lên tàu. Tôi nghe ông Tanaka nói cái gì đấy, nhưng tôi quá hoang mang buồn chán nên tôi không rõ ông ta nói gì. Tôi chỉ nghe lóang thóang bên tai những câu như:
Mata yo! – Hẹn ngày tái ngộ!
Hay là Mattyo! – Khoan đã!
Hay là như Ma..deyo! – Xin chia tay!
Khi chúng tôi nhìn ra cửa sổ toa tàu, tôi thấy ông Tanaka đi đến xe ngựa của ông và bà Loay Hoay lau hai tay lên áo kimono của mình.
Một lát sau chị tôi nói:
– Em Chiyo!
Tôi úp mặt vào lòng bàn tay, thú thật là tôi quá đau khổ đến độ muốn nhảy qua cửa sổ tàu để chạy trốn nếu tôi nhảy được. Vì chị tôi gọi tên tôi như thế, nên tôi biết chị đã quá ngao ngán trong lòng.
– Em có biết chúng ta đi đâu không? Chị hỏi.
Tôi nghĩ chị muốn nghe tôi trả lời biết hay không. Có lẽ đối với chị việc chúng tôi đến đâu không thành vấn đề – vì người ta đã thu xếp đưa chúng tôi đi. Nhưng dĩ nhiên chúng tôi không biết chúng tôi đi đâu. Tôi bèn hỏi cái ông loắt choắt, ông Bekku, nhưng ông ta không thèm đáp. Ông ta cứ nhìn vào chị Satsu như thể trước đó ông ta chưa bao giờ thấy người nào như chị. Cuối cùng ông ta nhăn mặt với vẻ ghê tởm rồi nói:
– Đồ cá! Hai đứa bay hôi tanh quá!
Ông ta lấy trong cái xách có dây rút ra một cái lược rồi cào mạnh lên tóc chị tôi. Tôi nghĩ chắc chị đau lắm. Nhưng tôi đoán khi nhìn cảnh vật trôi qua ngòai cửa sổ toa tàu có lẽ chị tôi còn đau đớn hơn nhiều. Bỗng miệng chị Satsu méo xệch như miệng một đứa bé, rồi chị òa khóc. Ngay cả khi chị ấy đánh tôi, nạt nộ tôi, tôi cũng không cảm thấy đau đớn bằng khi thấy mặt chị ấy run lên như thế. Tất cả đều do lỗi của tôi mà ra. Một bà già nhà quê có hàm răng nhô ra như răng chó, đem đến cho Satsu một củ cà rốt, sau đó hỏi chị đi đâu.
– Đi Kyoto – ông Bekku trả lời.
Khi nghĩ thế, tôi quá đỗi lo sợ, không dám nhìn thẳng vào mặt chị Satsu nữa. Ngay thị trấn Senzuru thôi cũng đã qúa là xa xôi đôi với tôi rồi. Còn Kyoto, tôi xem đấy như là ngọai quốc, như Hồng Kông, thậm chí như New York, nơi có lần tôi nghe ông bác sĩ Miura nói đến. Theo chỗ tôi biết thì Kyoto người ta nuôi trẻ con đế cho chó ăn thịt.
Chúng tôi ngồi yên trên tàu nhiều giờ liền không ăn uống gì hết. Tôi thấy ông Bekku lấy trong túi xách ra một gói lá sen, ông ta mở ngọn lá, trong lá là một vắt cơm lấm tấm muối mè. Tôi nhìn ông ta, nhưng mấy ngón tay xương xẩu của ông ta đút vắt cơm vào miệng, không buồn nhìn đến tôi. Tôi cảm thấy chưa bao giờ ngán ngẩm hơn lúc ấy. Cuối cùng chúng tôi xuống tàu tại một thị trấn lớn, tôi nghĩ đấy là Kyoto. Nhưng một lát sau, một chiếc tàu khác chạy vào sân ga, và chúng tôi lại lên tàu. Chếic tàu này mới đưa chúng tôi đến Kyoto. Chiếc tàu này đông đúc hơn chiếc tàu trước nhiều, cho nên chúng tôi phải đứng. Khi tàu đến nơi, trời gần tối, tôi cảm thấy người đau nhừ như tảng đá bị nước suối dội xuống suốt ngày.
Khi tàu đến gần ga Kyoto, tôi chỉ thấy thành phố một tí thôi. Nhưng tôi ngạc nhiên nhìn những mái nhà chạy dài đến tận chân các ngọn đồi xa xa. Tôi không ngờ thành phố to lớn đến như thế. Ngay đến bây giờ, mỗi lần ngồi trên tàu nhìn ra cảnh đường phố và nhà cửa, là tôi lại nhớ đến nỗi trống rỗng và lo sợ đến run người của tôi vào ngày đâu tiên tôi rời khỏi quê nhà ấy.
Ngược lại vào khỏang năm 1930, vẫn còn một số lớn xe kéo họat động ở Kyoto. Thật vậy, khi ấy có nhiều chiếc xe kéo đậu sắp hàng trước mặt ga, tôi nghĩ nếu mọi người không dùng xe kéo thì chắc không đi đâu được – ý nghĩ này thực ra cũng không phải là quá đáng. Có lẽ có khỏang 15 đến 20 chiếc đang gác càng xe trên mặt đất, còn các phu xe thì ngồi chò hỏ bên cạnh xe họ, người hút thuốc, kẻ ăn cơm; hai phu xe nằm cuộn người ngủ ngay trên mặt đất dơ dáy.
Ông Bekku lại nắm hai cùi tay chị em tôi dẫn đi như thể chúng tôi là hai xô nước ông ta mang từ giếng vào. Có lẽ ông ta sợ nếu thả chúng tôi ra là chúng tôi chạy trốn mất. nhưng làm sao chúng tôi chạy được. Bất cứ ông ta dẫn chúng tôi đi đâu, chúng tôi cũng phải lẽo đẽo đi theo, vì đường xá và nhà cửa ở đây mênh mông bát ngát, quá xa lạ với chúng tôi.
Chúng tôi leo lên một chiếc xe kéo, ông Bekku ngồi chễm chệ ở giữa, hai chúng tôi ở hai bên. Tôi thấy ông ta ốm nhom trong chiếc kimono. Khi người phu xe nâng hai càng xe lên, chúng tôi ngã ngửa ra phía sau và ông Bekku nói:
– Chạy đến Tominago-cho, ở khu Gion.
Nghười kéo xe không nói gì hết, chỉ việc ra sức kéo mạnh chiếc xe rồi bắt đầu chạy đi. Sau khi đi được một hai khu phố, tôi thu hết can đảm hỏi ông Bekku:
– Xin ông vui lòng cho chúng tôi biết chúng tôi đi đâu được không?
Có vẻ như ông ta không muốn trả lời, nhưng một lát sau ông ta đáp:
– Đi đến nhà mới của tụi bây.
Nghe thế, mắt tôi đẫm lệ. Tôi nghe chị Satsu ngồi bên kia bật khóc, và tôi cũng sắp sửa khóc thì bỗng ông Bekku đánh chị, chị thở hồng hộc. Tôi liền cắn môi để cho khói khóc thêm, tôi cắn môi mạnh đến độ tôi nghĩ nước mắt chảy ra chắc sẽ dừng lại ở hai má
Chẳng bao lâu sau, chúng tôi rẽ vào một đại lộ có vẻ rộng như cả làng tôi ở Yoroido. Tôi không thấy được phía bên kia đường, vi đường phố ta6’p nập, nào người, nào xe đạp, xe hơi và xe tải. Chưa bao giờ tôi thấy xe hơi. Có thấy chăng là thấy trên ảnh, nhưng tôi nhớ khi ấy tôi hết sức kinh ngạc…là vì cái cách mọi người nhìn chúng tôi làm cho tôi quá đỗi lo sợ, vì họ có vẻ “độc ác”, như thể họ sinh ra là để hành hạ người khác hơn là để giúp đỡ. Tôi cảm thấy đau đớn tận tâm can. Xe tải chạy rầm rầm qua gần sát bên chúng tôi, tôi ngửi được cả mùi cao su của vỏ xe tóat ra. Tôi nghe tiếng kin kít đinh tai nhức óc, tôi quay qua nhìn , hóa ra đấy là chiếc tàu điện chạy trên đường ray ngay giữa đại lộ.
Khi màn đêm buông xuống quanh tôi, tôi mới thấy khiếp sợ, nhưng chưa bao giờ trong đời tôi cảm thấy kinh ngạc như bấy giờ, khi tôi nhìn thấy đèn sáng khắp đường phố. Chưa bao giờ tôi thấy đèn điện ngọai trừ lần ăn cơm ở nhà ông Tanaka. Ở đây, đèn sáng khắp nơii, các cửa sổ trên lầu cũng như phía dưới các tòa cao ốc sáng choang, người đi trên các vỉa hè cũng có đèn chiếu sáng. Tôi có thể thấy rõ mọi vật từ xa trên đại lộ. Chúng tôi rẽ vào con đường khác, và lân đầu tiên tôi thấy Nhà hát Minamiza nằm phía bên kia một chiếc cầu ở trước mặt chúng tôi. Mái nhà nằm nghiêng đồ sộ, tôi thấy như một tòa lâu đài.
Cuối cùng chiếc xe kéo rẽ vào một con đường nhỏ hai bên tòan nhà gỗ. Nhà cửa ở đây nằm san sát vào nhau trông như thể chúng có cùng một mặt tiền – điều này một lần nữa làm cho tôi có cảm giác đã bị lạc đường. Tôi thấy những phụ nữ mặt kimono hấp tấp đi trên con đường nhỏ. Tôi thấy họ rất lịch sự, nhưng về sau này tôi biết họ hầu hết đều là tôi tớ trong nhà.
Khi xe chúng tôi dừng lại trước một ngôi nhà, ông Bekku ra lệnh cho tôi xuống xe. Ông ta bước xuống sau tôi, và rồi tuồng như cảnh đau đớn trong ngày chưa đủ, sự tệ hại nhất còn xảy ra tiếp cho chúng tôi nữa. Vì khi chị Satsu định xuống xe, thì ông Bekku quay lại, đưa tay đẩy chị lui vào trong xe. Ông ta nói với chị:
– Mày ngồi lại đấy. Mày đi đến chỗ khác.
Tôi nhìn Satsu và Satsu nhìn tôi. Có lẽ đây là lần đầu tiên chúng tôi hiểu tâm trạng của nhau hơn bao giờ hết. Nhưng việc này chỉ diễn ra một lát, vì sau đó mắt tôi nhòa lệ đến nỗi tôi không thấy gì hết. Tôi cảm thấy mình bị ông Bekku lôi đi, tôi nghe giọng nói của đàn bà nói cười với nhau rất huyên náo. Tôi bị ông Bekku kéo manh như muốn té xuống đường thì bỗng tôi thấy chị Satsu há hốc mồm nhìn cảnh tượng hiện ra ở phia sau tôi trên lối vào.
Tôi đang ở trên một lối đi nhỏ hẹp vào nhà, một bên có cái giếng nước trông có vẻ đã lâu đời và bên kia có vài cái cây. Ông Bekku lôi tôi vào nhà, và bây giờ ông ta phải kéo xệch tôi đi. Trên bậc thềm nhà, một phụ nữ rất đẹp đang đứng ở đấy, cô ta vừa xỏ chân vào đôi giày sơn mài, trên người mặc một chiếc áo kimono thật đẹp chưa bao giờ tôi được thấy. Chiếc kimono của nàng geisha có bộ răng hô ở thị trấn Senzuru của ông Tanaka đã làm cho tôi lác mắt rồi, nhưng cái áo này lại còn đẹp hơn rất nhiều. Cái áo này có màu xanh nước biển với những đường màu trắng ngà uốn lượn như dòng nước trong một con suối. Trong dòng nước, có một con cá hồi màu bạc óng ánh, và trên mặt nước, hễ nơi nào có những chiếc lá xanh lục mềm mại từ một thân cây chạm đến, là ở đấy được viền màu vàng. Tôi nghĩ chiếc áo được may bằng lụa rất mịn và chiếc khăn quàng quanh bụng cũng thế, khăn được thêu màu lục nhạt và vàng. Và không phải cái áo là vật duy nhất trên người cô ta đặc biệt đáng chú ý, mà mặt cô ta được trát phấn trắng tóat, như làn mâykhi được ánh mặt trời chiếu vào. Mái tóc được chải thành từng lọn theo kiểu tân thời, đen lấp lánh như những khối sơn mài, và được trang hòang bằng những thứ trang sức chạm trổ từ hổ phách, với một thanh ngang có đính nhiều chuỗi bằng bạc nhỏ li ti, mỗi khi cô ta di chuyển, những chuỗi bạc này đung đưa lấp lánh.
Đây là lần gặp mặt Hatsumono đầu tiên của tôi. Lúc ấy, cô ta là na1ng geisha nổi tiếng nhất ở vùng Gion này; nhưng dĩ nhiên khi ấy tôi không biết tí gì về cô ta hết. Cô ta nhỏ nhắn, kiểu tóc cô ta bới cao, nhưng cô ta đứng cũng không quá vai ông Bekku. Tôi quá kinh ngạc khi thấy cô ta, đến nỗi tôi quên hết cả phép lịch sự – mặc dù tôi chưa thấu hiểu thế nào là phép lịch sự – nên tôi cứ nhìn đăm đăm vào mặt cô ta. Cô ta mỉm cười nhìn tôi nhưng thái độ không được thân ái. Rồi bỗng cô ta nói:
– Ông Bekku, ông dẹp đồ rác rưởi đi được không? Tôi muốn đi ra đường đây.
Trên cửa ngõ không có rác rưởi gì hết; cô ta muốn ám chỉ tôi. Ông Bekku trả lời ông ta nghĩ cô Hatsumono có đủ chỗ để đi ra.
– Ông mới quan tâm đến việc đên gần bên nó – Hatsumono nói – Còn tôi, khi tôi thấy đồ rác rưởi bên này đường là tôi đi qua bên kia đường.
Bỗng một bà già hiện ra sau lưng cô ta trên ngưỡng cửa, người bà ta cao và thẳng đuột như cây tre, bà ta nói:
– Này cô Hatsumono, không biết có ai chịu đựng nổi với cô không.
Nhưng nói thì nói, bà ta vẫn ra dấu cho ông Bekku lôi tôi ra lại ngòai đường, và ông ta làm theo lời bà. Sau đó, bà ta bước xuống cửa ngỏ, bước đi rất ngượng ngập – vì một bên mông bà ta nhô ra khiến cho bà đi đưng khó khăn – rồi bà đến cái tủ nhỏ gắn trên vách. Bà ta lấy trong tủ ra vật gì đấy mà tôi nghĩ là một viên đá lửa và một viên đá có hình chữ nhật giống như cục đá mài của ngư dân, rồi bà ta đến sau lưng Hatsumono, đánh viên đá lửa vào cục đá, làm tóe ra một đốm lửa văng vào lưng của cô ta. Khi ấy tôi không hiểu bà ta làm như thế để làm gì, nhưng sau đó tôi mới biết giới geisha còn mê tín dị đoan hơn cả ngư dân nữa. Một nàng geisha mỗi khi đi ra ngòai vào buổi tối, là phải có ai đấy đánh đá lửa vào lưng họ để cầu may.
Sau đó, Hatsumono bước đi, những bước ngắn như thể nàng lướt theo tà áo kimono nhẹ rung. Lúc ấy tôi chưa biết cô ta là geisha, vì trông cô sáng giá hơn cái cô geisha ở Senzuru mà tôi đã thấy trước đây mấy tuần. Tôi cứ nghĩ cô ta là diễn viên sân khấu. Tất cả chúng tôi đều nhìn cô ta lướt đi một lát, rồi ông Bekku giao tôi cho bà già ở nơi cửa ngỏ. Ông ta quay lại chiếc xe kéo với chị tôi, và người phu xe nhấc càng lên. Tôi liền ngồi gục xuống trên nền cửa ngỏ mà khóc nức nở, nên không thấy họ ra đi lúc nào.
Hẳn là bà gìa thương hại tôi, vì tôi ngồi khóc nức nở đau khổ ở đấy một hồi lâu mà không ai đụng đến tôi.
Thậm chí tôi còn nghe bà biểu một chị giúp việc trong nhà im lặng khi chị đến để nói gì đó với bà ta. Cuối cùng bà ta đỡ tôi đứng dậy, lấy khăn trong cánh tay áo kimono màu xám giản dị, lau mặt cho tôi.
– Thôi thôi cháu ơi, đừng lo sợ làm gì, không ai ăn thịt cháu đâu mà sợ.
Bà ta nói với một giọng kỳ lạ giống như giọng của ông Bekku và Hatsumono. Giọng nghe rất khác với giọng tôi nghe người trong làng tôi nói, cho nên tôi phải cố gắnh lắm mới hiểu được. nhưng dù sao lời lẽ của bà nghe cũng thân ái nhất so với những người đã nói với tôi ngày hôm ấy, cho nên tôi nghĩ là phải làm theo lời khuyên của bà ta. Bà biểu tôi gọi bà bằng dì. Rồi bà nhìn vào mặt tôi đăm đăm và nói bằng một giọng khàn khàn:
– Trời đất! Cặp mắt mớii tuyệt làm sao! Cháu có biết cháu đẹp không? Thế nào Mẹ cũng khoái cho mà xem!
Tôi liền nghĩ chắc là mẹ của bà ta, và chắc bà ấy phải già lắm, vì bà Dì tóc đã bạc nhiều, chỉ thưa thớt một ít còn đen, mái tóc buộc cứng ra phía sau gáy.
Bà Dì dẫn tôi vào cửa, tôi thấy trước mắt là một hành lang bằng đất chạy qua giữa hai ngôi nhà rộng rãi nằm gần nhau, hành lang chạy dài cho đến cái sân sau. Một ngôi nhà nhỏ bằng ngôi nhà của tôi ở Yoroido, có hai phòng, nền nhà bằng đất, sau đó tôi mới biết đây là khu gia nhân ở. Ngôi nhà kia nhỏ hơn nhưng đẹp, nền nhà xây trên những tảng đá lớn hở nhau, một con mèo có thể bò qua được. Hành lang đi qua giữa hai ngôi nhà để lộ thiên, có thể nhìn thấy bầu trời đen ở trên đầu, cảnh tượng này khiến cho tôi có cảm giác là người ta đang ở trong một ngôi làng thu nhỏ hơn là trong một ngôi nhà – nhất là khi tôi nhìn thấy có nhiều ngôi nhà nhỏ bằng gỗ khác nữa nằm ở phía cuối sân. Khi ấy tôi không biết, nhưng đấy là kiểu nhà điển hình được người ta xây cất ở Kyoto. Những ngôi nhà ở trong sân, khi mớii nhìn, tôi tưởng đấy là một nhóm nhà nhỏ khác nhau, nhưng đấy chỉ là nhà nhỏ dùng làm phòng vệ sinh và kho hai tầng có thang ở bên ngòai để leo lên tầng trên. Tòan bộ ngôi nhà chiếm một diện tích nhỏ hơn ngôi nhà của ông Tanaka tại vùng quê mà chỉ có tám người ở. Và bấy giờ có tôi nữa là chín người.
Sau khi đã nhìn sơ qua cách bố trí các nơi trong nhà, tôi mớii nhìn đến ngôi nhà chính đẹp đẽ. Ở Yoroido, những ngôi nhà gỗ thường có màu xám chứ không có màu nâu, và bị gió biển làm cho gỗ đảo mục. Nhưng ở đây, nền nhà lát gỗ và các xà gỗ đều sáng bóng dưới ánh đèn điện vàng vọt. Những cánh cửa lùa mở ra tiền sảnh đều có che màn giấy, và một cái thang cũng nằm ở tiền sảnh bắt thẳng lên tầng trên. Một cánh cửa lùa đang mở, nên tôi có thể nhìn thấy trong nhà có một cái tủ gõ với bàn thờ Phật. Những căn phòng đẹp đẽ trong nhà này dành cho những người trong gia đình ở – kể cả Hatsumono, mặc dù cô ta không phải là thành phần trong gia đình, điều này sau đó tôi mới biết. Khi các thành viên trong gia đình muốn đi ra sân sau, họ không đi theo hành lang đất như gia nhân, mà họ có một hành lang nhỏ bằng gỗ đánh bóng chạy dọc theo một bên hông nhà. Nhà lại còn có phòng vệ sinh riêng biệt – phòng ở bên trên dành cho người trong nhà, còn phòng phía dưới dành cho gia nhân.
Tôi nghĩ chắc phải mất một vài ngày mớii biết hết khắp nơii trong nhà được. Trong khi bà Dì đi vào nhà bếp để nói chuyện với ai đấy, tôi đứng trên hành lang nhìn quanh, lòng phân vân không biết nơi này là nơi nào, tôi cảm thấy lo sợ vô cùng. Tiếng bà Dì nói với ai đấy trong bếp nghe ồ ồ. Cuối cùng có người đi ra. Người đi ra là một cô gái cỡ bằng tuổi tôi, trên tay xách một xô gỗ thật nặng đến nỗi nước bắn tung tóe trên nền đất. Thân hình cô ta nhỏ, nhưng khuôn mặt thì mập và tròn vành vạnh, trông như quả dưa hấu cắm trên cái que. Cô ta ráng sức để xách cái xô, lưỡi thè ra ngòai miệng như cọng lá thòi ra trên chóp trái bí ngô. Sau đó tôi nhận ra đấy là thói quen của cô ta. Cô ta thè lưỡi khi trộn cơm hoặc múc canh vào tô, hay thậm chí khi buộc dải áo. Và mặt cô ta mập ú, mêm mại, cái lưỡi thè ra cong lên như cọng bí, cho nên chỉ vài hôm sau tôi đã đặt cho cô ta biệt danh là “Bí Ngô”, và cái tên này liền được mọi người dùng để gọi cô ta – thậm chí nhiều năm về sau, khi cô ta đã trở thành geisha ở Gion, khách của cô cũng gọi thế.
Khi Bí Ngô để cái xô xuống bên cạnh tôi, cô ta thụt lưỡi vào,vừa nhìn tôi vừa đưa tay hất một dúm tóc xòa ra sau tai. Cô ta nhìn lên nhìn xuống người tôi. Tôi tưởng cô ta sắp nói gì, nhưng không, cô ta cứ nhìn như thể cô ta suy nghĩ có nên cắn tôi không. Quả vậy, trông cô ta có vẻ như đang đói. Nhưng cuối cùng cô ta nghiêng người gần bên tôi hỏi nhỏ:
– Bạn từ đâu đến đây?
Tôi nghĩ không nên cho cô ta biết tôi từ Yoroido đến đây, vì giọng cô ta tôi nghe cũng xa lạ như mọi người khác, tôi tin chắc cô ta không biết tên làng tôi được. Cho nên tôi chỉ đáp tôi vừa mớii đến.
– Mình cứ ngỡ không đời nào mình gặp một đứa con gái nào bằng tuổi mình ở đây – cô ta nói – Nhưng có phải cặp mắt bạn đã đưa bạn đến đây không?
Ngay khi ấy bà Dì từ trong bếp bước ra, bà đuổi Bi Ngô đi rồi xách xô nước lên và lấy miếng vả rẻo, bà dẫn tôi đi ra sân sau. Đường đi trên sân có lat đá, đá đóng meo trông rất đẹp. Đường đá chạy dài ra tận phía sau nhà kho và khi đi qua phòng vệ sinh trong căn nhà nhỏ nằm bên cạnh, mùi hôi thốí bốc lên nồng nặc. Bà Dì bảo tôi cởi áo quần ra. Tôi sợ bà ta sẽ làm cái công việc như bà Loay Hoay đã làm với tôi trước đây, nhưng không, bà ta chỉ xối nước lên vai tôi rồi lấy miếng vải rẻo kỳ cọ thân hình tôi. Xong xuôi, bà đưa cho tôi cái áo dài, cái áo may bằng vải thô có hình trang trí sơ sài màu xanh đậm, nhưng tôi thấy đây là cái áo đẹp hơn bất kỳ thứ gì tôi đã mặc trước đây. Một bà già mà sau đó tôi biết là bà đầu bếp ra đứng ở hành lang với nhiều chị ở đã lớn tuổi để nhìn tôi. Bà Dì nói họ sẽ có khối ngày giờ để nhìn tôi, và bảo họ hãy đi làm việc đi.
Khi còn lại một mình tôi với bà Dì, bà ta nói với tôi:
– Này cháu,bây giờ nghe ta cho kỹ. Ta chưa muốn biết tên của cháu đâu. Vừa rồi có đứa con gái đến đây, Mẹ và Bà Ngoại không thích nó, cho nên nó chỉ ở đây một tháng thôi. Ta già quá rồi, không nhớ tên cháu làm gì, cho đến khi họ quyết định giữ cháu ở đây.
– Nếu họ không giữ cháu thì sao? – Tôi hỏi.
– Nếu họ giữ cháu thì tốt cho cháu hơn.
– Nhưng thưa bà, cháu xin hỏi, nơi này là gì?
– Là nhà dạy làm kỹ nữ – Bà ta đáp – Đây là nơii ở của các nàng geisha. Nếu cháu chịu khó tập tành, cháu sẽ thành geisha. Nhưng quyết định nhận cháu hay không chỉ xảy ra trong vòng một tuần thôi, cho nên cháu phải tuyệt đối nghe lời ta, vì lát nữa Mẹ và Bà Ngoại trên lầu sẽ xuống xem cháu. Công việc của cháu là cúi người chào họ thật thấp và đưng nhìn vào mặt họ. Cáii bà già hơn, bà mà chúng ta gọi là Bà Ngoại ấy, chưa bao giờ thích ai cả, cho nên đừng lo sợ những điều bà ta nói. Nếu bà ta hỏi cháu câu gì, đừng trả lời, cứ để ta trả lời cho. Người mà cháu cần phải gây sự chú ý là bà Mẹ, bà ấy không khó đâu, nhưng bà ấy chỉ lưu tâm đến một điều mà thôi.
Tôi chưa kịp hỏi xem điều ấy là điều gì thì có tiếng cót két vang lên trước tiền sảnh, và chỉ một lát sau, hai người phụ nữ xuất hiện ngòai cửa phòng. Tôi không dám nhìn vào mặt họ. Nhưng tôi liếc mắt, thấy hai bó áo quần bằng lụa rất đẹp nối đuôi nhau lướt vào phòng. Họ đi đến trước mặt tôi rồi ngồi xuống và đưa tay vuốt áo kimono trên đầu gối.
– Chị Umeko ơi! – Bà Dì gọi lớn – đấy là tên của bà đầu bếp – mang trà đến cho bà.
– Tao không uống trà – tôi nghe giọng nói giận dữ vang lên.
– Thôii đi Bà Ngoại – một giọng khác thốt lên nghe the thé, tôi nghĩ đấy là giọng của Mẹ – Bà không muốn thì thôi. Dì chỉ muốn biết bà có khỏe không thôi.
– Xương cốt tao già rồi, làm sao khỏe cho được – bà già càu nhàu đáp. Tôi nghe bà vừa thở vừa nói gì nữa đấy nhưng Bà Dì đã cắt ngang lời bà.
– Mẹ à, đây là đứa con gái mới – bà nói và đẩy nhẹ tôi tới, như muốn bảo tôi cúi người chào. Tôi quỳ xuống và cúi người sát rạt xuống, đến nỗi tôi ngửi được mùi ẩm mốc từ nền nhà bốc lên. Rồi tôi nghe tiếng Mẹ cất lên.
– Đứng dậy đến đây. Tao muốn xem mày cho kỹ.
Tôi tưởng bà nói gì thêm nữa sau khi tôi đã đến gần bà, nhưng không, bà moi trong thắt lưng ra cái ống vố có nồii nhồi thuốc lá bằng kim lọai, cái cán là một đốt trúc dài. Bà ta để ống vố xuống bên cạnh rồi lấy trong túi ở cánh tay áo ra một cái túi lụa có giải rút, bà mở dây rút ra lấy một nhúm thuốc lá. Bà đưa ngón tay nhỏ nhắn nhét thuốc vào nồi, ngón tay bị nhựa thuốc vấy bẩn có màu vàng nghệ, rồi bà đưa đầu ống vố vào miệng và lấy diêm trong cái hộp bằng kim lọai nhỏ, bật lửa hút thuốc.
Bấy giờ bà ta mới bắt đầu nhìn kỹ vào tôi, vừa nhìn vừa hút ống vố, còn bà già ngồi bên cạnh thở dài. Tôi không dám nhìn thẳng vào mặt Me, nhưng tôi có cảm giác khói thuốc phì ra trên mặt bà như hơi nước thóat ra từ nắp vung đậy trên cái nồi đất. Tôi hêt sức muốn nhìn bà ta cho biết, đến nỗi tôi đánh liều nhướng mắt lên nhìn. Càng nhìn vào bà ta, tôi càng thấy kích thích, cứ muốn nhìn mãi. Chiếc kimono của bà màu vàng có in hình những cành liễu rũ với những ngọn lá màu cam và màu lục thật đẹp, áo may bằng thứ lụa mịn màng như màng nhện. Khăn quàng lưng cũng làm cho tôi thích thú không kém. Vải may khăn cũng rất đẹp, nhưng trông thô hơn, màu nâu đỏ có dệt xen những sợi chỉ màu vàng. Càng nhìn vào áo của bà ta bao nhiêu, tôi càng ít nghĩ đến cảnh tôi đứng trên hành lang bằng đất, hay là bớt phân vân tự hỏi không biết chị tôi ra sao, và bố mẹ tôi ra sao, và thân phận tôi sẽ ra sao. Cái gì trên áo kimono của bà ta cũng làm cho tôi quên mình. Rồi khi tôi nhìn lên khuôn mặt của bà ta tôi mớii giật mình hỏang hốt: trên cổ áo kimono mỹ miều là một khuôn mặt ma chê quỷ hờn không xứng với chiếc áo chút nào hết, khiến cho tôi nảy ra ý nghĩ là tôi đang vuốt ve một con mèo thì bỗng nhiên tôi nhận ra đấy là đầu con chó bun. Bà ta xấu xí kinh khủng, mặc dù trẻ hơn bà Dì nhiều , xấu đến độ tôi không ngờ tới. Hóa ra bà “Mẹ” là em của bà “Dì” – nhưng họ gọi nhau là Mẹ và Dì, như mọi người khác trong nhà dạy kỹ nữ thường gọii. Thực ra thì họ không phải là chị em như kiểu chị Satsu và tôi. Họ không phải cùng cha cùng mẹ sinh ra, nhưng Bà Ngọai nhận nuôi cả hai người.
Tôi đứng dậy, lòng hoang mang lo sợ, tâm trí nghĩ ngợi lung tung đến nỗi cuô’i cùng tôi quên lời dặn của bà Dì là tôi đã làm cái điều bà bảo không được làm. Tôi nhìn thẳng vào mắt Mẹ. Khi tôi làm thế, bà ta lấy cái ống vố ra khỏi miệng khiến cho hàm xai của bà chành bành xuống như cánh cửa sập. Và mặc dù tôi nghĩ tôi phải nên nhìn xuống lại thì hơn, nhưng cặp mắt kỳ cục của bà ta quá sức xấu xí làm cho tôi quá ngạc nhiên đến nỗi tôi cứ đứng yên nhìn vào mắt bà. Thay vì tròng trắng mắt trong, thì tròng mắt bà ta có màu vàng trông rất quái đản, cái màu mắt khiến cho tôi nghĩ đến nước tiểu người ta vừa tiểu tiện trong bồn vệ sinh. Mí mắt thì bầm tím, mọng nước lên, và quanh cặp mắt, da nhăn nheo thụng xuống.
Tôi đưa mắt nhìn cái miệng của bà ta, miệng bà ta đang hả ra. Trên mặt của bà ta có đủ thứ màu: mí mắt thì màu đỏ bầmnhư màu thịt sống, lợi răng và lưỡi có màu xám. Và vật trông khủng khiếp nhất là hàm răng dưới, mỗi cái dưới như được cắm vào trong một vũng máu nhỏ nơi lợi. Sau này tôi mới biết rằng sở dĩ bà ta bị như thế là vì mấy năm qua, thực đơn của Mẹ không đủ chất dinh dưỡng, nhưng càng nhìn vào bà, tôi không thể nào không có ý nghĩ rằng bà ta như một cái cây bắt đầu rụng lá. Nhìn mặt bà ta xong, tôi quá kinh ngạc đến nỗi tôi nghĩ chắc tôi phải bước lui một bước, nếu không tôi sẽ há hốc mồm ra mà thở dốc, nếu không tôi sẽ có thái độ gì đấy khiến cho bà ta đóan được ý nghĩ của tôi, vì bỗng thình linh bà lên tiếng nói với tôi bằng giọng the thé như hồi nãy:
– Mày nhìn cái gì thế?
– Thưa bà, cháu xin lỗi. Cháu nhìn áo kimono của bà – Tôi đáp – Cháu chưa bao giờ thấy cái áo nào đẹp như thế.
Hẳn đây là câu trả lời rất thich hợp. Vì bà ta buông ra một tiếng như tiếng cười , mặc dù có vẻ như tiếng ho.
– Thì ra mày thích cái áo này hả? – Bà ta hỏi rồi ho tiếp – hay cười – tôi không thể quả quyết là tiếng gì – Mày có biết giá tiền chiếc áo này là bao nhiêu không?
– Dạ không, thưa bà.
– Còn đắt hơn cả mày nữa đấy.
Đến đây chị giúp việc mang trà vào. Trong khi chị ta rót trà, tôi thừa cơ hội ấy liếc mắt nhìn Bà Ngoại. Trong khi Mẹ khá mập mạp, ngón tay múp míp và cái cổ đầy đặn thì Bà Ngọai già nua cằn cỗi. Ít ra bà ta cũng già như bố tôi thôi, nhưng trông bà ta có vẻ yếu đuối như thế này có lẽ vì bà ta sống qúa dè sẻn keo kiệt. Mái tóc bạc trông như một đám chỉ trắng lưa thưa, nhìn vào tôi thấy được cái sọ ở dưới tóc. Và ngay cả cái sọ trông có vẻ teo nhỏ lại với từng mảng da đầu có màu đỏ và màu nâu vì tuổi già. Trán không nhăn mấy, nhưng miệng thì xệ xuống.
– Tao đã nói tao không uống trà mà, không nghe sao? – Nói xong bà thở dài và lắc đầu, rồi nói với tôi – mày mấy tuổi?
– Nó tuổi Thân, tuổi con khỉ – Dì trả lời thay cho tôi.
– Con mụ đầu bếp điên khùng kia cũng tuổi khỉ đấy – Bà Ngọai nói.
– Chín tuổi – Mẹ nói – này Dì, Dì nghĩ sao về nó?
Bà Dì bước ra trước mặt tôi, đỡ đầu tôi lên và nhìn vào mặt tôi:
– Nó có nhiều nước, mạng thủy.
– Cặp mắt đẹp đấy – Mẹ nói – Bà thấy không, Bà Ngoại?
– Nó trông như một con điên – Bà đáp – Chúng ta không cần thêm một con khỉ nữa.
– Ồ, tôi thấy bà nói đúng – Dì nói – Có lẽ nó giống như bà nói. Nhưng trống nó có vẻ thông minh và dễ thích nghi. Nhìn vào vành tai nó bà sẽ thấy.
– Có nhiều nước trong người – Mẹ nói – có lẽ nó có thể đánh bớt được lửa trước khi lửa bùng cháy. Không hay sao, thưa bà? Bà khỏi lo nhà kho chứa áo kimono của cả nhà bị chaý.
Về sau tôi hiểu ra Bà rất sợ hỏa họan.
– Ngòai ra trông nó đẹp đấy chứ, phải không? Mẹ nói thêm.
– Có rất nhiều gái đẹp ở Gion rồi – bà đáp – Chúng ta cần gái thông minh chứ không cần gái đẹp. Con Hatsumono cũng đẹp, mà trông nó như con điên.
Nói xong, bà đứng dậy, đi ra cửa, với sự giúp đỡ của Dì. Nhưng nhìn dáng đi vụng về của Dì – vì một bên mông, xương nhô ra nhiều hơn mông kia – tôi nghĩ chưa chắc người nào đã đi vững vàng hơn người nào. Một lát sau, tôi nghe tiếng cửa trước tiền sảnh kéo ra rồi đóng lại, và bà Dì quay trở vào phòng.
– Mày có rận không, con kia? Mẹ hỏii.
– Không – tôi đáp.
– Mày phải học cách nói năng cho lễ phép mới được. Dì này, dì làm ơn cắt xén tóc tai cho nó, để coi cho được mắt một chút.
Bà Dì gọi gia nhân bảo đem kéo đến.
– Này bé, – Mẹ nói với tôi – bây giờ thế là mày ở tại Kyoto rồi. Mày phải học cách cư xử cho tốt, nếu không sẽ bị ăn đòn. Và chính Bà Ngọai sẽ đánh đòn, cho nên mày phải lo liệu lấy. Tao khuyên mày như thế này: hãy cố gắng làm việc cho giỏi, nếu không có phép thì không được ra khỏi nhà này. Hãy làm theo lệnh của người trong nhà, đừng làm lộn xộn, và sau hai hay ba tháng mày sẽ được học các môn nghệ thuật mà một geisha cần biết.
Mẹ bập bập hít ống vố, mắt vẫn nhìn tôi đăm đăm. Tôi không dám nhúc nhích cho đến khi bà bảo tôi đi. Tôi phân vân không biết phải chăng chị tôi cũng đang đứng trước một mụ đàn bà độc ác khác tại một nhà khác ở đâu đó trong cái thành phố khủng khiếp này. Và bỗng tôi mường tượng ra trong óc cảnh mẹ tôi, bệnh họan khốn khổ, đang chống một khuỷu tay lên nệm ngủ, nhổm người nhìn quanh xem chúng tôi ở đâu. Tôi không muốn bà Mẹ nhìn thấy tôi khóc, nhưng nước mắt cư chực tràn ra khỏi mắt khiến tôi không biết làm sao ngăn chúng lại. Mắt tôi nhòa lệ, màu vàng trên áo kimono của Mẹ trở thành nhạt dần cho đến khi nó biến thành màu trắng lấp lánh. Rồi bà ta phì ra một hơi khói, màu áo của bà ta hoàn toàn biến mất.  

 

Đời kỹ nữChương 4

 

Suốt mấy ngày đầu tiên ở ngôi nhà xa lạ này, tôi cứ nghĩ tôi mất tay mất chân mà đừng mất gia đình và nhà cửa, chắc tôi ít đau đớn hơn thế này. Tôi nghĩ chắc đời tôi sẽ không bao giờ được trở lại như trước. Tôi cứ nghĩ đến cảnh đau đớn khổ sở của mình, và ngày này qua ngày khác, tôi tự hỏi không biết khi nào tôi mới có thể gặp lại chị Satsu. Tôi không có cha có mẹ – thậm chí không có cả quần áo tôi thường mặc. Tuy nhiên điều làm cho tôi kinh ngạc nhất là sau mấy tuần trôi qua, tôi đã sống còn. Tôi nhớ một lần tôi lau chén bát trong nhà bếp, bỗng thấy mình mất tinh thần, tôi ngừng công việc đang làm để nhìn đăm đăm vào hai tay mình một hồi lâu, vì tôi không tin được kẻ đang lau khô chén bát này lại chính là tôi.
Bà Mẹ đã nói với tôi nếu tôi chịu khó làm việc và biết xử sự thì vài tháng sau tôi sẽ được học tập nghề geisha. Như Bí Ngô đã cho tôi biết, bắt đầu học tập có nghĩa là đi đến trường học ở một khu vực khác tại Gion để học các môn như âm nhạc, múa và nghệ thuật phục vụ trà. Tất cả các cô gái học để trở thành geisha đều cùng học tại trường này. Tôi nghĩ khi tôi được phép đi học, chắc thế nào tôi cũng tìm ra Satsu, cho nên sau tuần đầu tiên, tôi quyết chí sẽ ngoan ngoãn vâng lời như con bò đi theo sợi dây xâu ở mũi, với hy vọng Mẹ sẽ sớm cho phép tôi đến trưlờng học tập.
Hầu hết những việc làm của tôi đều đơn giản. Buổi sáng, tôi dọn dẹp nệm trải trên nền nhà, lau chùi nền nhà, quét dọn hành lang đất, v..v.. Thỉnh thoảng người ta sai tôi ra tiệm thuốc để mua thuốc ghẻ cho bà bếp, hay đến tiệm tạp hóa mua bánh tráng gạo cho Dì, món ăn Dì rất thích. May mắn thay cho tôi là công việc lau chùi nhà vệ sinh đều do các chị người làm lớn tuổi đảm trách. Mặc dù đã cố làm việc hết mình, tôi vẫn không gây được ấn tượng tốt như lòng tôi mong đợi, vì công việc lặt vặt nhiều quá tôi làm không xuể, và chuyện khó khăn này đa số đều do Bà Ngoại gây ra.
Việc chăm sóc bà không phải là nhiệm vụ của tôi – theo Dì cho tôi biết như thế. Nhưng khi bà gọi, tôi không thể không chạy đến được, vì bà là người có quyền hạn hơn bất kỳ ai ở trong ngôi nhà này. Chẳng hạn, một hôm tôi đang mang trà lên cho Mẹ thì bà gọi lớn:
– Con bé đâu rồi? Bảo nó lên đây cho tao!
Tôi phải để khay trà xuống, vội vã chạy lên. Bà đang ăn trưa.
– Mày không thấy phòng này quá nóng hay sao? – Bà nói sau khi tôi đã quỳ xuống chào bà – Đáng ra mày phải vào đây để mở cửa sổ cho tao chứ.
– Cháu xin lỗi, thưa bà. Cháu không biết bà nóng.
– Nhìn tao thế này mà không nóng à?
Bà ta đang ăn cơm, vài hạt cơm dính vào môi dưới. Tôi thấy bà ta có vẻ ham ăn chứ không có vẻ gì nóng nảy hết, nhưng tôi vẫn đi đến cửa sổ để mở cửa ra. Khi vừa mở, một con ruồi liền bay vào, bay vù vù quanh mâm cơm của bà.
– Mày làm sao thế này? – Bà ta nói, đưa đôi đầu đũa xua con ruồi đi. – Mấy đứa ở khi mở cửa không để ruồi bay vào.
Tôi xin lỗi và nói để tôi đi lấy cái cây đập ruồi.
– Đập ruồi vào thức ăn của tao à? Không được. Không được làm thế! Mày đứng đây đuổi ruồi cho tao ăn.
Thế là tôi phải đứng đấy trong khi bà ta ăn cơm, và nghe bà kể đủ chuyện. Khi tôi được phép ra ngoài thì trà của Mẹ đã nguội, không thể mang đến cho bà uống được. Thế là cả bà đầu bếp và Mẹ đều tức tối.
Thực ra thì bà không thích ở một mình. Thậm chí khi vào phòng vệ sinh, bà cũng cần có Dì đứng ngoài cửa, nắm hai tay bà để bà ngồi xuống cho vững. Mùi hôi nồng nặc khiến Dì phải ngẩng đầu lui thật xa. Tôi không làm công việc ghê tởm này, nhưng bà thường gọi tôi đến đấm bóp, trong khi bà rửa lỗ tai với cái ly bạc nhỏ. Công việc đấm bóp này rất khổ chứ không nhẹ nhàng gì. Lần đầu tiên bà cởi áo kéo xuống quá vai, tôi như muốn phát bệnh, vì da ở vai và ở cổ bà xù xì và vàng khè như da gà còn sống. Sau này tôi mới biết bà bị như thế là do đã thoa thứ phấn trắng gọi là “Đất Sét Trung Hoa” có pha chì. Không chỉ có một mình bà Ngoại bị như thế mà ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh thế giới lần II người ta vẫn còn thấy nhiều bà già da ở cổ thụng xuống vàng khè.
Khoảng ba tuần sau ngày tôi vào nhà dạy kỹ nữ, một hôm tôi lên lầu dọn dẹp phòng của Hatsumono trễ hơn thường khi. Mặc dù tôi không gặp cô ta vì cô ta rất bận rộn, nhưng tôi vẫn rất sợ Hatsumono. Tôi sợ nếu cô ta gặp tôi một mình, sẽ có lắm chuyện không hay xảy ra, cho nên tôi cố lau chùi phòng của cô ta vào giờ cô rời khỏi nhà để đi học múa. Rủi thay, sáng hôm ấy bà Ngoại sai tôi làm nhiều việc lặt vặt mãi cho đến gần trưa mới xong.
Phòng của Hatsumono rộng hơn các phòng khác trong nhà, diện tích tính ra còn rộng hơn ngôi nhà của tôi ở Yoroido. Tôi thấy thắc mắc về điều này thì có một chị giúp việc cho biết rằng phòng này trước đây có đến bốn cô geisha ở nhưng giờ chỉ còn một mình Hatsumono mà thôi. Tuy sống một mình nhưng cô ta rất bừa bộn. Hôm ấy, khi vào phòng cô ta, ngoài những đồ đạc để lung tung như mọi khi, còn có cái giá gỗ móc áo kimono nằm ngã dưới đất. Ngay khi tôi dựng cái giá lên, cánh của xịch mở, tôi quay lại thì thấy Hatsumono đang đứng đó.
– Ồ thì ra cô – cô ta nói – Tôi nghe tiếng động cứ ngỡ đấy là chuột hay cái gì đấy. Thì ra cô đang dọn dẹp phòng của tôi. Có phải cô là người có bổn phận sắp xếp lại các lọ đồ trang sức của tôi không? Tại sao cô tha thiết làm việc ấy thế?
– Tôi xin lỗi, thưa bà – Tôi đáp – Tôi chỉ nhích chúng ra để lau bụi ở dưới thôi.
– Nhưng nếu cô đụng vào chúng, chúng sẽ lây mùi hôi của cô. Rồi thì các ông sẽ nói “Này cô Hatsumono, tại sao cô có mùi hôi của cô gái ngu dốt ở làng đánh cá như thế?” Tôi nghĩ chắc cô biết điều đó chứ, phải không? Nhưng cô hãy lập lại cho chắc ăn. Tại sao tôi không muốn cô đụng đến các đồ trang điểm của tôi?
Tôi nghẹn ngào không thốt lên lời. Nhưng cuối cùng tôi cũng đáp:
– Vì chúng sẽ có mùi hôi như tôi.
– Rất tuyệt. Và các ông sẽ nói gì?
– Họ sẽ nói: Ồ cô Hatsumono, cô có mùi hôi như cô gái ở làng đánh cá.
– Hừ…Tôi không thích cái điệu cô nói như thế. Nhưng thôi cho qua. Tôi không biết tại sao con gái ở các làng đánh cá có mùi hôi như thế. Ngày hôm kia cô chị xấu xí của cô có đến đây tìm cô, cô ta cũng có mùi hôi như cô vậy.
Nãy giờ tôi luôn luôn nhìn xuống sàn nhà, nhưng khi nghe Hatsumono nói thế, tôi liền ngước mắt nhìn thẳng vào cô ta để xem cô ta có nói thật hay không.
– Cô kinh ngạc lắm hả? – Cô ta nói – Tôi nói cô ta có đến đây phải không? Cô ta muốn nhờ tôi báo cho cô biết hiện cô ấy đang ở đâu. Có lẽ cô ta muốn cô đến tìm cô ta rồi hai chị em cùng nhau bỏ trốn…
– Cô Hatsumnono…
– Cô muốn tôi nói cho cô biết hiện cô ta đang ở đâu phải không? Tốt, cô rất muốn biết. Khi nào tôi thấy tiện, tôi sẽ cho cô biết. Bây giờ thì hãy ra khỏi đây.
Tôi không dám không vâng lời, nhưng trước khi bước ra khỏi phòng, tôi nghĩ có lẽ tôi nên cố thuyết phục cô ta.
– Thưa cô Hatsumono, tôi biết cô không thích tôi – tôi nói – Nếu cô có lòng tốt nói cho tôi biết, tôi xin hứa sẽ không làm phiền cô nữa đâu.
Khi nghe tôi nói thế, Hatsumono lộ vẻ sung sướng ra mặt, cô ta đi về phía tôi. Thú thật, chưa bao giờ tôi thấy một phụ nữ nào trông hấp dẫn như thế. Đàn ông đi ngoài đường thường dừng lại, lấy thuốc trên miệng ra để nhìn cô ta. Tôi tưởng cô ta sẽ đến nói nhỏ bên tai tôi, nhưng sau khi đứng mỉm cười trước mặt tôi một lát, cô ta đưa tay tát vào mặt tôi.
– Tao đã bảo mày đi ra khỏi phòng tao kia mà – Cô ta nói.
Tôi quá sửng sốt không biết phải phản ứng ra sao. Nhưng chắc tôi đã lảo đảo bước ra khỏi phòng, vì sau đó tôi ngồi gục xuống sàn ván ở hành lang, hai tay ôm mặt. Ngay khi đó, cửa phòng của Mẹ mở ra. Bà đến đỡ tôi đứng lên và nói:
– Hatsumono! Cô làm gì Chiyo thế này?
– Nó tính chuyện bỏ trốn đấy Mẹ ạ. Tôi đánh nó cho mẹ là hay nhất. Tôi nghĩ chắc Mẹ quá bận rộn công việc nên không đánh nó được.
Mẹ gọi một chị giúp việc, bảo chị ta đi lấy vài lát gừng tươi rồi dẫn tôi vào phòng bà, để tôi ngồi xuống và bà nói tiếp cuộc điện thọai bị bỏ dở. Chiếc máy điện thoại duy nhất trong nhà dùng để gọi ra ngoài khu Gion được gắn trên tường ở phòng bà, không ai được phép dùng nó hết. Bà để ống nghe nằm nghiêng trên kệ, và khi bà lấy lên lại để nói, bà bóp mạnh mấy ngón tay múp míp vào ống nghe, như muốn vắt cho nó ra nước.
– Xin lỗi – bà nói vào ống nghe, giọng the thé – Hatsumono lại đánh người làm trong nhà.
Trong mấy tuần đầu ở nhà dạy kỹ nữ này, tôi cảm thấy có cảm tình với Mẹ một cách vô cớ – như thể con cá được người dánh cá tháo lười câu ra khỏi miệng. Có lẽ vì hàng ngày tôi chỉ thấy bà vài phút khi tôi lau chùi phòng bà. Bà lúc nào cũng có mặt ở đấy, ngồi nơi bàn, thường với cuốn sổ kế toán mở ra trước mắt, mấy ngón tay lia lịa hất các hạt tính bằng ngà trên cái bàn tính Trung Hoa. Bà bận bịu tính tóan cả ngày, và phòng bà lại lộn xộn bừa bãi hơn cả phòng của Hatsumono nữa. Hễ mỗi khi bà ta dằn mạnh cái ống vố xuống bàn là từng đám tro và thuốc bay ra trên mặt bàn, và bà cứ để mặc chúng ở đấy. Bà không muốn ai đụng đến tấm nệm ngủ của bà, thậm chí không ai thay vải trải nệm, cho nên căn phòng bốc lên mùi vải dơ, còn các tấm màn giấy che cửa sổ dơ bẩn kinh khủng vì bị khói thuốc bám vào, khiến cho căn phòng thêm u tối .
Trong khi Mẹ nói chuyện trên điện thoại, chị gia nhân mang đến nhiều lát gừng mới cắt để tôi đắp lên chỗ bị Hatsumono đánh. Vì cửa phòng cứ mở ra đóng lại, khiến con chó nhỏ Takku của Mẹ thức dậy, con chó có bộ mặt xấu xí và tính tình hung dữ. Nó chỉ có ba việc phải làm: sủa, ngáy và cắn người nào muốn nựng nó. Sau khi chị ở đi ra rồi, con Taku đến nằm phía sau lưng tôi. Đây là trò ma giáo của nó, vì nó muốn nằm như thế để tôi có sơ ý dẫm lên nó, và thế là nó có cớ để cắn tôi. Tôi cảm thấy khi ấy tôi như con chuột bị nhốt trong phòng đóng kín cửa, vì tôi ngồi giữa Mẹ và Takku. Cuối cùng Mẹ gác điện thoại, đến ngồi vào bàn. Bà nhìn tôi, cặp mắt vàng khè, bà nói:
– Bây giờ nghe tao cho rõ, bé. Có lẽ mày đã nghe Hatsumono nói đùa. Vì nó có thể trốn thoát, nhưng mày thì không thể trốn được. Tao muốn biết tại sao nó đánh mày?
– Cô ấy muốn tôi ra phòng của cô ấy, thưa Mẹ – tôi đáp – Tôi rất ân hận.
Mẹ bảo tôi nói lại bằng giọng Kyoto cho đúng, việc này đối với tôi thật khó, khi tôi nói lại rõ ràng cho bà hài lòng, bà nói:
– Tao nghĩ chắc mày không hiểu công việc của mày ở đây. Tất cả chúng tao đều nghĩ đến một việc duy nhất thôi – đó là làm sao chúng tao giúp Hatsumono trở thành một geisha thành công. Ngay cả Bà Ngoại nữa. Bà có vẻ khó khăn với mày thật đấy, nhưng suốt ngày bà chỉ nghĩ đủ cách để giúp đỡ Hatsumono.
Tôi không hiểu Mẹ muốn nói cái gì. Thật tình mà nói, tôi không thể tin được bà có thể thuyết phục ai tin rằng Bà Ngoại có ý đồ giúp đỡ ai đó.
– Nểu người có quyền hành ở đây như Bà Ngoại mà còn làm việc cật lực cả ngày để giúp công việc của Hatsumono được thuận lợi dễ dàng hơn, thì tao nghĩ mày cũng phải làm việc cật lực mới được.
– Vâng thưa Mẹ, con sẽ tiếp tục làm việc cật lực.
– Tao không muốn thấy mày làm cho Hatsumono bực mình thêm lần nữa. Con bé kia tránh đường cô ấy, thì mày cũng phải làm như thế.
– Vâng thưa Mẹ. Nhưng trước khi đi, con có thể hỏi Mẹ được không? Con chỉ muốn biết hiện chị con ở đâu mà thôi. Con chỉ muốn gởi cho chị ấy lời nhắn thôi.
Miệng của Mẹ rất kỳ lạ, nó to chành ành trên mặt, lúc nào cũng hả ra, nhưng bây giờ bà nghiến hai hàm răng lại với nhau như thể bà muốn tôi nhìn vào miệng bà. Đấy là kểu cười của bà, nhưng mãi cho đến khi bà phát ra tiếng ho tôi mới biết bà cười, vì khi cười bà giống như là đang ho.
– Làm sao tao nói cho mày biết chuyện ấy được? – Nói xong bà ta phá ra cười vài lần nữa rồi hươ tay ra dấu bảo tôi ra khỏi phòng.
Khi tôi đi ra, bà Dì đang đứng đợi tôi ở ngoài hành lang gần cầu thang để sai bảo tôi làm việc. Bà đưa tôi cái xô nước, bảo tôi leo lên cái thang bắt qua cánh cửa sập lên tận mái nhà. Ở đấy có bể nước để trên mấy cái trụ gỗ để hứng nước mưa. Nước mưa chảy xuống theo trọng lực để xối phòng vệ sinh ở tầng hai ở gần phòng Mẹ, vì lúc ấy chúng tôi chưa có hệ thống nước máy. Mấy hôm trước, vì trời khô ráo không có nước mưa, mà phòng vệ sinh lại hôi hám. Cho nên công việc của tôi là xách nước lên đổ vào thùng để bà Dì xối rửa phòng vệ sinh vài lần cho sạch.
Ngói trên mái nhà buổi trưa nóng như lửa. Trong khi đổ nước vào thùng, tôi không thể nào không nghĩ đến nước hồ lạnh ở làng ven biển quê tôi. Tôi mới tắm trong hồ chỉ cách đây mấy tuần thế mà bây giờ tôi cảm thấy đã lâu lắm rồi. Dì bảo tôi nhổ cỏ giữa các khe ngói trước khi tụt xuống. Tôi nhìn hơi nóng hầm hập phả lên khắp thành phố và nhìn các ngọn đồi bao quanh chúng tôi như những bức tường bao quanh nhà tù. Tôi nghĩ có lẽ đâu đó dưới một trong những mái nhà này, chị tôi đang làm công việc lặt vặt như tôi. Tôi mải nghĩ đến chị ấy nên sơ ý va phải thùng nước làm cho nước bắn ra, chảy xuống đường.
Khoảng một tháng sau khi tôi đến nhà dạy kỹ nữ, Mẹ bảo đã đến lúc tôi bắt đầu đến trường học. Sáng hôm sau tôi phải theo Bí Ngô đến trường để giới thiệu với các giáo viên. Sau đó, Hatsumono sẽ đưa tôi đến một nơi có tên gọi là Phòng Hộ Tịch, nơi tôi chưa hề nghe nói đến, và đến xế chiều, tôi sẽ xem cô ta trang điểm và mặc áo kimono. Đấy là tục lệ trong nhà dạy kỹ nữ dành cho một cô gái, vào ngày cô ta bắt đầu luyện nghề, để quan sát nàng geisha bề trên chuẩn bị trang phục.
Khi Bí Ngô nghe tin cô ta sẽ dẫn tôi đến trường vào sáng hôm sau, cô ta rất căng thẳng. Cô ta nói với tôi:
– Bạn phải chuẩn bị sẵn sàng để ra đi ngay khi bạn vừa thức dậy. Nếu đến trễ, chúng ta sẽ ê mặt đấy.
Sáng nào tôi cũng thấy cô ta vội vã ra khỏi nhà khi trời còn sớm tinh mơ và mỗi khi ra đi, cô ta đều có vẻ như muốn khóc. Thực vậy, mỗi khi nghe tiếng guốc gỗ của cô ta đi qua ngoài cửa sổ nhà bếp, là tôi cảm thấy như nghe cô ta khóc. Cô ta không thuộc hết bài học, thực ra là không hiểu hết. Cô ta đến nhà dạy kỹ nữ trước tôi gần sáu tháng, thế mà cô ta chỉ bắt đầu học nghề quãng một tuần sau khi tôi đến. Ngày nào khi đi học về vào lúc giữa trưa, cô ta đi thẳng vào khu gia nhân, trốn ở đấy để không ai thấy cô buồn.
Bí Ngô đợi tôi ngoài cửa ngỏ, vẻ bồn chồn lo lắng. Tôi vừa xỏ chân vào giầy thì Bà Ngoại gọi tôi vào phòng.
– Không! – Bí Ngô hoảng hốt nói, mặt cô ta xịu xuống, ỉu xìu. – Tôi lại đến trễ nữa mất! Ta cứ đi, giả vờ như không nghe thấy bà ấy gọi!
Tôi muốn làm theo lời Bí Ngô nói, nhưng Bà Ngoại đã hiện ra nơi ngưỡng cửa, nhìn tôi qua hành lang phía trước nhà. Nhưng bà chỉ giữ tôi lại mươi mười lăm phút thôi, tuy nhiên mắt Bí Ngô đã đầy cả nước. Khi chúng tôi ra đi, Bí Ngô đi thật nhanh khiến tôi phải chạy theo mới kịp.
– Mụ già kia quá độc ác! – Cô ta nói – Bạn nhớ rửa tay với nước muối sau khi chà xát cổ cho bà ta.
– Tại sao phải làm thế?
– Mẹ tôi thường nói “Ma quỷ đụng đâu là gieo họa đến đấy.” Và tôi thấy quả thật như thể. Mẹ tôi đã vướng phải vào một con quỷ một buổi sáng khi đi ngoài đường, vì thế mà bà chết. Nếu bạn không rửa tay cho sạch, bạn sẽ biến thành đồ già nua quắt queo như Bà Ngoại thôi.
Bí Ngô và tôi cùng tuổi và cùng hoàn cảnh giống nhau, nên tôi nghĩ nếu có thể, chắc chúng tôi thường nói chuyện với nhau. Nhưng công việc trong nhà làm cho quá bận rộn, thậm chí không cùng ăn chung với nhau nữa. Bí Ngô ăn trước vì cô ta cấp bậc cao hơn tôi trong nhà này. Tôi biết Bí Ngô đến trước tôi chỉ sáu tháng như tôi đã nói. Nhưng tôi biết rất ít về cô ta. Cho nên tôi hỏi :
– Bí Ngô này, có phải bạn ở Kyoto không? Nghe giọng nói của bạn, tôi nghĩ bạn phải là người ở đây.
– Tôi sinh ra ở Sapporo, nhưng mẹ tôi chết khi tôi lên năm. Bố tôi gởi tôi đên đây để sống với ông cậu. Năm ngoái cậu tôi thất nghiệp, và tôi vào đây.
– Tại sao bạn không chạy về Sapporo lại?
– Bố tôi gặp tai hoạ và chết hồi năm ngoái rồi. Tôi không chạy về đấy được. Tôi không có đâu để đi hết.
– Khi tôi tìm ra được chị tôi – tôi nói – bạn có thể đi với tôi. Chúng ta cùng chạy trốn.
Tôi nghĩ Bí Ngô gặp cảnh khó khăn trong việc học tập này, cho nên chắc cô ta sẽ sung sướng khi nghe tôi đề nghị như thể. Nhưng cô ta không nói gì hết. Chúng tôi đã đến Đại lộ Shijo và lặng lẽ băng qua đường. Ngày ấy Bekku dẫn tôi và Satsu từ nhà ga qua đây, con đường này rất đông đúc. Bây giờ trời còn sáng sớm, tôi chỉ thấy xa xa một chiếc tàu điện và lác đác vài chiếc xe đạp. Khi chúng tôi qua đến bên kia đường, chúng tôi đi theo một con đường hẹp, rồi bỗng Bí Ngô thình lình dừng lại .
– Cậu tôi là người rất tốt – cô ta nói – Trước khi cậu đưa tôi đến đây cậu đã nói với tôi những lời cuối cùng như thể này “Con gái có đứa thông minh, có đứa ngu đần. Cháu dễ thương đấy, nhưng cháu cũng ngu đần. Cháu không thể tự mình xoay sở để sống ở đời được đâu. Cậu sẽ gởi cháu đến một nơi mà người ta bảo cháu làm theo ý họ. Cháu hãy làm theo lời họ. Cháu sẽ được chăm sóc mãi mãi.” Cho nên, nếu bạn muốn bỏ trốn, bạn cứ đi. Còn tôi, tôi đã tìm ra nơi để sống rồi. Tôi sẽ làm việc cật lực để họ không đuổi tôi đi. Tôi thà chịu gian khổ còn hơn để mất cơ hội trở thành geisha như Hatsumono.
Nói đến đây Bí Ngô dừng lại, cô ta đưa mắt nhìn cái gì đấy ở dưới đất phía sau lưng tôi rồi thốt lên:
– Ôi lạy trời , Chiyo! Thấy cái này bạn không thèm sao?
Tôi quay người và thấy chúng tôi đứng trước cửa ngõ một nhà dạy kỹ nữ khác. Trên kệ bên trong cửa có một cái am nhỏ thờ thần, có để cúng bánh ngọt. Tôi tự hỏi không biết có phải Bí Ngô nhìn các thứ này không, nhưng mắt cô ta cúi nhìn xuống đất. Tôi nhìn theo con đường lát đá chạy vào cửa trong, tôi chỉ thấy vài cây dương xỉ và một ít rêu bám vào bám trên đá thôi chứ chẳng có gì hết. Rồi bỗng mắt tôi nhìn thấy vật ấy. Một cái xiên gỗ dùng nướng thịt còn dính một miếng mực nướng cháy đen nằm dưới đất phía bên ngoài cửa ngõ, ngay bên mép đường. Ban đêm có người đẩy xe đi bán thịt nướng. Mùi thịt nướng ăn với tương làm cho tôi thèm nhỏ rãi, vì tôi tớ như chúng tôi thường được ăn cơm với dưa chua, mỗi ngày được ăn một bữa cháo, và mỗi tháng hai lần được ăn vài con cá nhỏ kho khô. Thế nhưng trông miếng mực nướng dưới đất, tôi chẳng thấy thèm chút nào hết. Hai con ruồi bò quanh trên miếng mực như thể chúng đang dạo chơi trong công viên.
Bí Ngô có khả năng mập rất nhanh nếu được ăn uống đầy đủ. Tôi thường nghe bụng cô ta sôi ào ào vì đói, như tiếng cánh cửa khổng lồ mở toang ra. Thế nhưng tôi không tin là cô ta định ăn miếng mực nướng này, vì tôi thấy mắt cô ta đảo lên đảo xuống trên đường xem có ai đang đến gần không.
– Bí Ngô – tôi nói – nếu bạn đói, bạn lấy bánh ngọt trên kệ mà ăn. Ruồi bu trên miếng mực rồi .
– Tôi to lớn hơn ruồi – cô ta đáp – vả lại ăn bánh ngọt sẽ xúc phạm đến thần linh. Đấy là đồ cúng mà.
Nói xong, cô ta cúi xuống, lấy cái xiên nướng thịt lên.
Quả thật tôi đã lớn lên ở một nơi mà trẻ con quen thói ăn bất cứ cái gì còn sống. Và tôi xác nhận có lần tôi đã ăn một con dế khi tôi lên bốn hay lên năm gì đấy nhưng tôi ăn là vì bị lừa. Nhưng khi nhìn Bí Ngô đứng ngắm cái xiên thịt nướng trên tay đất bụi trên đường dính vào miếng mực, ruồi bu quanh…cô tả thổi mạnh vào miếng mực để xua chúng đi nhưng chúng chỉ chạy quanh miếng mực cố bám cứng vào đấy.
– Bí Ngô, bạn không ăn cái đấy được đâu – tôi nói – ăn cái đấy chẳng khác nào liếm lưỡi trên đường đá!
– Liếm đá trên đường có gì hại đâu? – Cô ta nói.
Nói xong, Bí Ngô quỳ xuống thè lưỡi liếm một cái trên mặt đường. Nếu tôi không thấy chuyện này thì chắc không bao giờ tin được. Tôi há miệng nhìn, sửng sốt. Khi Bí Ngô đứng lên lại, vẻ mặt cô ta như thể chính cô cũng không tin nổi việc mình vừa mớii làm. Nhưng cô ta lấy tay lau miệng, nhổ nước bọt vài lần, rồi đưa miếng mực vào miệng, cắn giữa hai hàm răng và lôi cái xiên ra.
Chắc miếng mực nướng dai lắm, vì Bí Ngô nhai mãi suốt thời gian chúng tôi đi lên dốc đồi đến chiếc cổng gỗ của khu vực nhà trường. Tôi cảm thấy lòng nôn nao khi bước chân vào, vì khu vườn quá rộng. Quanh chiếc hồ nuôi nhiều cá chép, người ta trồng loại cây trường xuân và thông uốn để làm cảnh. Bên kia hồ ở chỗ hẹp nhất, có kê một miếng đá phẳng. Hai bà già mặc kimono đang đứng ở đó, trên tay cầm dù hoa để che nắng buổi sớm. Còn tòa nhà, lúc đó tôi không biết nhiều, nhưng bây giờ tôi nhớ chỉ có một phần nhỏ trong đó dùng làm trường học. Phần khu nhà khổng lồ phía sau trường học dùng làm nhà hát Kaburenjo – nơi cứ mỗi khi mùa xuân đến là giới geisha ở Gion trình diễn Vũ điệu Cố đô.
Bí Ngô vội vã đi vào cửa một dãy nhà gỗ mà tôi tưởng là khu nhà ở của gia nhân, nhưng hóa ra đấy là nhà trường. Ngay khi vừa bước vào cửa, tôi đã ngửi thấy mùi trà lá khô, bây giờ cứ mỗi lần nhớ tới buổi đi học đầu tiên ấy là lòng tôi thắt lại. Tôi cởi giày để vào ngăn kệ gần chỗ tôi đứng. Nhưng Bí Ngô chận tôi lại, có luật bất thành văn ở đây về việc sử dụng các ngăn ở trên kệ này. Trong số học viên ở đây thì Bí Ngô là người mới nhập môn nên cô ta phải leo lên cất giày ở ngăn trên cao nhất. Và hồi ấy tôi là người mới đi học lần đầu nên tôi thuộc hạng bét, tôi phải để giầy phía ngăn trên của cô ta.
Mặc dù trên kệ mới chỉ có mấy đôi giầy, nhưng Bí Ngô vẫn nói với tôi:
– Khi leo lên kệ, bạn cẩn thận đừng đạp lên giày của người khác. Nếu bạn đạp lên giày của cô nào mà họ biết, họ trách mắng bạn không chịu nổi đâu.
Tôi thấy phía trong nhà trường cũ kỹ và bụi bặm như ngôi nhà bỏ hoang. Cuối hành lang dài tôi thấy một nhóm khoảng bảy tám cô gái đang đứng. Thấy họ, tôi bỗng giật mình hốt hoảng, vì tôi cứ tưởng có một cô là chị Satsu, nhưng khi họ quay lại nhìn chúng tôi, tôi thất vọng vì không phải. Tất cả đều có một kiểu tóc, kiểu ngắn gọn của các cô geisha tập sự. Họ nhìn tôi với ánh mắt như thể họ là những người từng trải ở Gion nhiều hơn Bí Ngô và tôi.
Đến giữa hành lang, chúng tôi đi vào phòng học, phòng rộng rãi xây theo kiểu cổ truyền của Nhật Bản Trên một bức vách có treo một tấm bảng lớn, trên bảng có những cái móc, một vài cái móc có treo những tấm bảng nhỏ bằng gỗ trên bảng, viết tên học viên bằng chữ thật đậm màu đen. Khả năng đọc và viết của tôi còn yếu, tôi có đi học ở Yoroido vào buổi sáng, và khi đến Kyoto, tôi chỉ được học với bà Dì một giờ vào buổi chiều, nhưng tôi cũng đọc được vài tên. Bí Ngô đến lấy tấm bảng có tên cô ta để trong cái hộp trên chiếu rồi móc vào một trong những cái móc đó. Chắc anh cũng biết đấy, tấm bảng trên vách là sổ đăng ký điểm danh.
Sau đó chúng tôi đi đến các phòng học khác để đăng ký môn học khác nữa của Bí Ngô, cách đăng ký cũng giống nhau. Cô ta phải học bốn môn buổi sáng: đàn Shamisen, múa, nghệ thuật phục vụ trà và hát loại nhạc mà chúng tôi gọi là Nagawta. Bí Ngô rất bối rối, bực bội vì cô ta là học viên đến sau cùng so với các học viên khác trong lớp, đến nỗi khi chúng tôi về nhà để ăn sáng, cô ta thắt khăng quàng quanh áo thật mạnh. Nhưng khi chúng tôi mang giày vào, chúng tôi thấy một cô gái khác cỡ tuổi chúng tôi chạy băng qua vườn vào trường, tóc tai bù xù. Thấy thế Bí Ngô có vẻ bình tĩnh hơn trước.
Chúng tôi ăn một tô cháo rồi vội vã quay trở lại trường ngay để Bí Ngô chuẩn bị học đàn Shamisen. Cô ta quỳ ở cuối lớp để ráp cây đàn. Nếu người nào chưa từng thấy cây đàn Shamisen, thì chắc họ rất thích thú khi thấy loại đàn này. Có người gọi là đàn ghi ta Nhật Bản, nhưng thực tế nó nhỏ hơn đàn ghi ta nhiều. Đàn có cổ nhỏ bằng gỗ, trên đầu có ba núm vặn lớn để lên dây. Thân đàn bằng gỗ mỏng, trên mặt thùng căng bằng da mèo như cái trống. Cây đàn có thể tháo rời ra thành từng mảnh để bỏ vào hộp hay túi xách để mang đi cho tiện. Bí Ngô ráp đàn rồi đàn, miệng thè lưỡi ra. Tôi rất tiếc phải nói rằng lỗ tai của cô ta rất tệ, những nốt nhạc cô đánh ra ồm ồm, lộn xộn như chiếc thuyền lắc lư trên sóng, không đúng với điệu nhạc người ta yêu cầu cô phải đàn. Một lát sau phòng học đông đúc, cô nào cô nấy ôm đàn trên tay, ngồi rải rác trong phòng như các viên kẹo sô cô la để đều trong hộp. Tôi cứ nhìn ra cửa, lòng mong sao thấy Satsu bước vào, nhưng vẫn không có chị.
Một lát sau cô giáo đi vào. Cô giáo là một bà già nhỏ nhắn, giọng lanh lảnh. Tên cô là cô Mizumi. Trước mắt cô, chúng tôi gọi cô như thể, nhưng họ của cô Mizumi, đọc lên nghe gần như Nezami, mà nezami có nghĩa là “chuột”. Nhưng sau lưng cô, chúng tôi gọi cô là Nezami, cô Chuột.
Cô Chuột quỳ xuống trên nệm, quay mặt xuống lớp và nhìn học viên với nét mặt nghiêm nghị. Khi học viên cùng cúi chào và chúc tụng cô xong, cô chỉ nhìn họ không nói một tiếng. Cuối cùng, cô nhìn lên tấm bảng trên vách và gọi tên học sinh đầu tiên.
Cô gái đầu tiên này có vẻ tự tin. Sau khi lên trước lớp, cô ta cúi chào cô giáo rồi bắt đầu đàn. Vài phút sau cô Chuột bảo cô ngừng lại, phê bình rất gay gắt về khả năng của cô ta, rồi cô khép quạt lại, vẫy tay đuổi cô gái về chỗ. Cô gái cám ơn, lại cúi chào và đi về chỗ. Cô Chuột lại gọi học sinh tiếp theo.
Các học sinh tiếp tục lên đàn hơn một giờ thì đến phiên Bí Ngô. Tôi thấy Bí Ngô lo sợ ra mặt và quả nhiên cô ta đàn hỏng bét, cái gì cũng sai. Trước hết cô Chuột chặn cô ta lại, lấy cây đàn giúp cô ta lên dây cho đúng. Rồi Bí Ngô đàn lại, nhưng các học viên ngơ ngác nhìn nhau vì họ không biết cô ta đang chơi bài gì. Cô Chuột đấm tay xuống bàn, ra lệnh cho họ phải nhìn tới phía trước, rồi cô giáo lấy quạt đánh nhịp cho Bí Ngô đàn theo. Nhưng cũng chẳng được gì cho nên cuối cùng cô Chuột phải nắm tay Bí Ngô để hướng dẫn cho cô ta đàn, nhất là cái cách cầm miếng gẩy đàn. Cô giáo gần như là bẻ gãy ngón tay của Bí Ngô khi tập cho cô cầm miếng gẩy đàn cho đúng cách, cuối cùng cô giáo đành thả tay ra, để miếng gẩy đàn rơi xuống chiếu, vẻ chán nản. Bí Ngô lượm lên rồi vừa khóc cô ta vừa quay về chỗ ngồi.
Sau chuyện này tôi mới hiểu tại sao Bí Ngô rất lo lắng về việc mình là học sinh sau cùng. Vì sau Bí Ngô là đến phiên cô gái tóc tai bờm xờm chạy đến trường lúc chúng tôi trở về nhà ăn sáng. Cô ta ra trước lớp, cúi người chào. Cô Chuột nạt cô ta:
– Đừng mất công chào hỏi làm gì! Nếu sáng nay cô đừng ngủ dậy trưa, thì chắc cô đã đến đúng giờ để học rồi.
Cô gái xin lỗi và bắt đầu đàn, nhưng cô giáo không thèm để ý đến. Cô ta chỉ nói:
– Sáng nào cô cũng ngủ dậy trưa. Làm sao tôi dạy cho cô được khi cô không thèm bận tâm đến đăng ký học đúng giờ như những cô khác? Đi về chỗ đi. Tôi không muốn dạy cho cô nữa.
Lớp học bãi. Bí Ngô dẫn tôi ra trước cửa phòng, chúng tôi cúi chào cô Chuột. Bí Ngô nói:
– Cháu xin phép giới thiệu với cô đây là Chiyo. Cháu xin cô rộng lòng chỉ dạy cho cô ấy vì cô ấy tài hèn sức mọn.
Bí Ngô không có ý ngạo tôi, vì đây là cách ăn nói của mọi người khi họ muốn tỏ ra mình lễ phép. Chính mẹ tôi cũng thường nói năng như thế.
Cô Chuột không nói gì một lát, cô nhìn tôi rồi cuối cùng cô lên tiếng:
– Cháu trông thông minh đấy. Nhìn cháu ta cũng biết. Có lẽ rồi cháu cũng giúp được chị cháu học tập đấy.
Dĩ nhiên cô ta nói Bí Ngô là chị tôi.
– Mỗi sáng hãy đến móc tên lên bảng cho sớm – cô nói tiếp – Hãy giữ im lặng trong lớp. Tôi không tha thứ việc nói chuyện trong lớp đâu! – Và cô nhìn ra phía trước – Nếu cháu nghe lời như thế, ta sẽ cố sức dạy cho cháu.
Nói xong cô giáo bảo chúng tôi đi chỗ khác.
Khi đi giữa hành lang các lớp học, tôi cứ nhìn xem có Satsu không, nhưng không thấy chị ấy đâu hết. Tôi bắt đầu lo sợ rằng có lẽ không bao giờ tôi gặp lại chị ấy, và khi ấy mặt tôi quá buồn rầu đến nỗi một giáo viên sắp dạy cho lớp hoc đã bảo mọi người im lặng rồi cất tiếng hỏi tôi:
– Này cô kia, cô lo lắng gì thế?
– Ồ thưa bà không, tôi chỉ sơ ý cắn phải môi – tôi đáp, và để chứng minh cho mọi người thấy, – vì khi ấy các cô chung quanh đang quay mặt nhìn tôi – tôi cắn mạnh vào môi cho tươm máu.
Trong các môn học khác của Bí Ngô, tôi thấy không khí nhẹ nhàng dễ chịu hơn môn học đàn vừa rồi. Trong lớp múa chẳng hạn, các học viên đều múa tập thể, không có ai đứng ngoài xem. Vả lại Bí Ngô múa không đến nỗi tệ, mặc dù các di chuyển của cô ta chưa được mềm mại, hài hòa. Sau đó là môn hát, môn này đối với cô ta có vẻ khó khăn vì thính giác của cô ta rất tệ, nhưng ở lớp này tất cả các học viên đều hát chung cho nên Bí Ngô có thể che dấu yếu điểm của mình bằng cách há miệng rất to mà hát thì nho nhỏ.
Cứ cuối mỗi môn học là Bí Ngô giới thiệu tôi với giáo viên. Một giáo viên hỏi tôi:
– Cô ở cùng nhà dạy kỹ nữ với Bí Ngô phải không?
– Dạ phải, thưa bà, ở nhà dạy kỹ nữ Nitta – Nitta là họ của Bà Ngoại, của Mẹ và của Dì.
– Thế là cô ở cùng chỗ với cô Hatsumono rồi .
– Dạ thưa bà. Hiện giờ Hatsumono là geisha duy nhất trong nhà.
– Tôi sẽ ra sức dạy cho cô hát để cô cũng trở thành geisha như ai!
Nói xong cô giáo cười ha hả như thể là cô nói đùa, rồi cô ta ra dấu cho chúng tôi đi chỗ khác.                         

 

Đời kỹ nữChương 5

 

Chiều hôm ấy Hatsumono dẫn tôi đến Phòng Hộ Tịch ở Gion. Tôi cứ tưởng phòng này lớn lắm, nhưng té ra chỉ gồm mấy phòng âm u trải nệm rơm ở tầng hai của trường học, chật ních bàn ghế và sổ sách kế tóan, mùi thuốc lá hôi hám khắp nơi. Một người nhân viên nhìn chúng tôi sau màn khói và gật đầu mời chúng tôi vào phòng sau. Ở đây, tại một cái bàn chất đầy giấy tờ hồ sơ, một người đàn ông rất to lớn ngồi phía sau bàn, chưa bao giờ tôi thấy người nào to lớn như thế. Lúc ấy tôi không biết, nhưng ông ta đã một thời làm võ sĩ đô vật. Ông ta không phải là tay đô vật có hạng cho nên không có tên tuổi lưu lại hậu thế, nhưng ông ta vẫn thích được người ta gọi cái tên ông dùng lúc còn lên võ đài, đó là ông Awajiumi. Vài nàng geisha giản lược bớt tên ông thành Awaji, biệt danh của ông ta.
Khi chúng tôi đi vào, Hatsumono tỏ ra rất duyên dáng. Lần đầu tiên tôi thấy cô ta làm thế, cô ta chào ông ấy:
– Chào anh Awaji, – Nhưng cách cô ta kéo dài âm tiết ở giữa khiến cho tôi phải ngạc nhiên.
Giọng nói của cô nghe như mắng ông ta. Khi nghe giọng cô, ông ta để bút xuống, hai cái má nâng cao lên tận tai, đó là kiểu cười của ông ta.
– Chà…chào cô Hatsumono – ông ta đáp – nếu cô đẹp hơn tí nữa chắc tôi phải độn thổ mất.
Giọng nói ông ta nghe khao khao, vì giới võ sĩ đô vật thường bị hư thanh quản do họ tông đầu vào cổ nhau.
Awajiumi to như con hải mã, nhưng ông ta ăn mặc rất sang, ông mặc chiếc áo kimono có sọc nhỏ. Ông ta phụ trách chi tiêu tiền bạc ở Gion, và trong số tiền bạc này, có một ít chảy vào túi của ông. Không thể nói đây là hành động ăn trộm, mà phải nói là do quy chế như thế. Vì Awajiumi có vị trí quan trọng như thế, cho nên giới geisha muốn có lợi thì phải làm cho ông ta được hạnh phúc, nên ông ta nổi tiếng là người hào hoa phong nhã, áo quần bảnh bao.
Hatsumono và Awajiumi nói chuyện với nhau một hồi lâu, rồi cô nói với ông ta rằng cô đến để đăng ký cho tôi vào học. Quả Awajiumi chưa nhìn đến tôi, nên khi nghe cô ta nói, ông quay cái đầu khổng lồ sang nhìn tôi. Nhìn một lát, bỗng ông ta đứng dậy đến mở một khung sáng trên cửa sổ bọc giấy cho ánh sáng tràn vào nhiều hơn.
– Trời, chắc mắt tôi mờ rồi – ông ta nói – Đáng ra cô nên cho tôi biết sớm hơn rằng cô đem người đẹp đến đăng ký chứ. Cặp mắt cô ta có màu gương.
– Gương à? – Hatsumono hỏi – Gương không có màu đâu anh Awaji ơi.
– Dĩ nhiên nó có chứ, đó là màu xám long lanh. Khi người ta nhìn vào gương, người ta chỉ thấy bóng họ, nhưng tôi thì thấy được màu mắt đẹp của họ.
– Thế ư? Màu ấy đối với tôi không đẹp. Có lần tôi trông thấy người ta vớt lên một người đàn ông chết trôi, cái lưỡi của ông ta trông giống như màu mắt của cô ta.
– Có lẽ cô ta đẹp nên cô không thấy được màu mắt đẹp của cô ta đấy thôi – Awajiumi nói, mở sổ ra và cầm bút trên tay – Mà thôi, bây giờ ta đăng ký cho cô bé nào, Chiyo phải không? Chiyo, cho tôi biết cô họ gì và nơi sinh.
Ngay khi tôi nghe những lời này, trước mắt tôi hiện ra cảnh chị Satsu đứng nhìn ông Awaijiumi, lòng bồi hồi lo sợ. Chắc chị ấy đã ở trong phòng này vào một lúc nào đấy; nếu tôi phải đến đăng ký thì chắc chắn chị ấy cũng phải đăng ký.
– Họ tôi là Sakamoto – tôi đáp – Tôi sinh ở thị trấn Yoroido. Thưa ngài, chắc ngài đã nghe dến họ này một lần rồi, vì người ấy là chị tôi, tên Satsu, có phải không ạ?
Tôi tưởng Hatsumono tức giận khi nghe tôi nói thế nhưng tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy cô ta có vẻ thích thú khi nghe tôi hỏi.
– Nếu cô ta lớn hơn cô, chắc cô ta đã phải đăng ký rồi – Awajiumi đáp – Nhưng tôi không gặp cô ta. Tôi đoán chắc cô ấy không ở tại khu vực Gion này.
Bây giờ nụ cười của Hatsumono đối với tôi thật có ý nghĩa; cô ta đã biết trước ông Awaijiumi sẽ nói như thế. Nếu trước đây tôi còn nghi ngờ chuyện cô ta nói đến chị tôi, thì bây giờ tôi tin chắc chứ không nghi ngờ gì nữa. Ở Kyoto có nhiều khu vực huấn luyện geisha, nhưng tôi không biết hết, chắc Satsu ở trong một khu vực nào đấy, tôi quyết phải tìm cho ra.
Khi tôi trở về nhà, Dì đang đứng đợi tôi để dẫn tôi đến nhà tắm ở cuối đường. Tôi đã đến đấy rồi, nhưng những lần trước tôi chỉ đi với các chị giúp việc lớn tuổi thôi, họ thường đưa cho tôi cái khăn tắm nhỏ và miếng xà phòng, rồi ngồi xổm trên nền lát ngói mà tắm chung với nhau. Dì thì tử tế hơn, Dì quỳ xuống và kỳ lưng cho tôi. Tôi lấy làm lạ là bà không giữ ý tứ gì hết, cặp vú dài thõng đung đưa qua lại như dây chỉ và hai cái chai. Thậm chí bà còn tình cờ quẹt vú vào vai tôi hai ba lần.
Tắm xong bà dẫn tôi về nhà, mặc cho tôi chiếc kimono lụa đầu tiên, chiếc áo màu xanh sáng sủa có những đám cỏ màu lục ở gấu áo và hoa màu vàng nhạt chung quanh tay áo và trên ngực. Rồi bà dẫn tôi lên lầu đến phòng của Hatsumono. Trước khi vào phòng, bà dặn dò tôi thật kỹ rằng đừng quấy rầy Hatsumono hay đừng làm gì khiến cho cô ta nổi giận. Khi ấy tôi không hiểu việc này, nhưng bây giờ tôi biết lý do tại sao bà lo lắng đến thế. Chắc anh biết, khi thức dậy vào buổi sáng, geisha cũng như mọi phụ nữ khác thôi. Chỉ khi nào ngồi trước gương để tô son điểm phấn thật cẩn thận thì khi ấy mới thành geisha.
Vào phòng tôi được chỉ ngồi bên cạnh Hatsumono, xa cách khoảng một cánh tay ở phía sau cô ta, ngồi ở đây tôi có thể thấy mặt của cô ta trong tấm gương nhỏ trên bàn trang điểm. Cô ta quỳ trên nệm, mặc chiếc áo dài vải bó sát hai vai, và lượm lên nửa tá bàn chải hóa trang các loại. Có cái rộng như cái quạt, có cái trông như chiếc đũa có đính một dúm lông mềm ở mút. Cuối cùng cô ta quay qua đưa tôi xem.
– Đây là bàn chải của tôi – cô ta nói – Và cô có nhớ cái này không? – Cô ta lấy ở ngăn kéo bàn trang điểm ra một cái lọ nhỏ đựng một thứ bột rất trắng, cô ta huơ huơ cái lọ trên không cho tôi thấy. – Đây là đồ hóa trang mà tôi đã dặn dò cô không được đụng đến.
– Tôi không đụng đến cái lọ ấy đâu – tôi nói.
Cô ta hít hít cái lọ đậy kín nắp nhiều lần và nói:
– Không, tôi tin cô không đụng đến – Đoạn cô ta để cái lọ xuống và lấy lên ba chiếc đũa dùng tô màu. Cô ta xòe bàn tay ra cho tôi thấy các thứ ấy.
– Thứ này dùng tô màu, cô nhìn cho kỹ đi.
Tôi lấy một chiếc đũa tô màu lên xem. Đũa to bằng ngón tay của một đứa trẻ sơ sinh, nhưng cứng và láng như đá, cho nên nó sẽ không để lại trên da tôi màu sắc gì hết. Một đầu đũa được bọc bằng một miếng lá bạc mỏng dùng để xoa các vết lốm đốm trên mặt.
Hatsumono lấy ra một cái que khác mà tôi thấy giống như một nhánh củi bị đốt cháy ở đầu.
– Đây là thanh củi khô lấy ở cây ngô đồng, rất dễ thương – cô ta nói – dùng để vẽ lông mày. Và đây là sáp – cô ta mở gói giấy lấy ra hai thanh sáp đã dùng một nửa cho tôi xem.
– Bây giờ cô đã biết tại sao tôi đưa cho cô xem những thứ này chưa?
– Để tôi học cách cô trang điểm ra sao.
– Trời ơi, không phải! Tôi đưa cho cô xem để cô thấy rằng không có chuyện ảo thuật dính dáng vào đây. Cô thật quá tội nghiệp! Vì chuyện này có nghĩa là chỉ trang điểm thôi không đủ để biến cô Chiyo tội nghiệp thành một tuyệt thế giai nhân.
Hatsumono quay mặt nhìn vào gương và vừa hát nho nhỏ vừa mở nắp cái lọ kem màu vàng nhạt. Chắc anh không tin khi nghe tôi nói thứ kem này được làm bằng phân của chim sơn ca, nhưng sự thực là thế. Thời ấy, nhiều cô geisha dùng nó để làm kem bôi mặt vì người ta tin rằng chất này rất tốt cho da; nhưng nó rất đắt đến nỗi Hatsumono chỉ dám chấm vài chấm quanh mắt và miệng mà thôi. Rồi cô ta ngắt một chút nơi thỏi sáp, bóp trong hai ngón tay cho mềm rồi thoa lên mặt lên cổ và lên ngực. Cô ta lau hai bàn tay vào một miếng giẻ một lát cho thật sạch, rồi lấy cái bàn chải lớn thấm vào dĩa nước cho ướt, xát lên chất hóa trang cho đến khi chất đó nhão ra trắng toát. Cô ta phết chất nhão này lên mặt lên cổ nhưng chừa cặp mắt cũng như vùng quanh môi và mũi. Nếu anh đã thấy trẻ con cắt những cái lỗ trên giấy để làm mặt nạ, thì anh sẽ tưởng tượng ra được mặt Hatsumono như thế đấy, cho đến khi cô ta thấm ướt cái bàn chải nhỏ hơn để tô vẽ lên các chỗ còn hổng ấy. Sau đó trông cô ta như thể bị té úp mặt vào thùng bột gạo, vì mặt cô trắng hếu. Trông cô giống như con quỷ, nhưng dù thế, tôi vẫn ganh với cô ta và thấy xấu hổ. Vì tôi biết vài giờ nữa thôi, đàn ông sẽ say sưa nhìn vào mặt cô ta, còn tôi ở nhà, người rịn mồ hôi nhớp nhúa và tầm thường.
Sau đó cô ta thấm ướt cái đầu que tô màu, phết son lên hai má. Suốt tháng đầu tiên ở trong nhà dạy kỹ nữ, tôi đã nhìn thấy cô ta trang điểm nhiều lần rồi; hễ bất cứ khi nào nhìn lén được cô ta là tôi nhìn, miễn không lộ liễu là được. Tôi để ý thấy cô ta thay đổi màu sắc trên hai má, tùy vào màu áo kimono cô ta mặc hôm đó. Chuyện này không có gì lạ, nhưng có điều là khi ấy tôi không biết, mà phải nhiều năm sau tôi mới rõ là cô hay chọn màu đỏ nhiều hơn các màu khác. Tôi không thể nói tại sao cô ta thích màu ấy, nhưng màu này thường được người ta nghĩ đến màu máu. Nhưng Hatsumono không điên, cô ta biết cách tô điểm mày mặt cho xinh đẹp.
Khi cô ta tô son xong, cô ta vẫn chưa có lông mày hay môi. Sau đó cô để mặt mình trắng như cái mặt nạ kỳ lạ như thế và nhờ bà Dì vẽ hộ cho sau gáy của cô. Nếu anh cần biết tôi xin cho anh biết đôi điều về cái cổ của người đàn bà Nhật. Số là đàn ông Nhật thường thích cái cổ và bụng của đàn bà Nhật Bản, như kiểu người đàn ông phương Tây thích chân phụ nữ vậy. Vì thế giới geisha thường mặc áo kimono có cổ thật thấp phía đàng sau, đến nỗi để lộ ra mấy đốt xương sống phía trên hết. Tôi nghĩ việc này giống như phụ nữ ở Paris mặc váy ngắn vậy. Bà Dì tô lên cổ của Hatsumono một cái hình được gọi là Sanbon-ashi, nghĩa là ba chân. Cái hình trông rất vui vì người ta có cảm giác như thể họ đang nhìn làn da cổ qua ba cái cọc nhỏ vót nhọn của cái hàng rào sơn trắng. Phải đợi đến mấy năm sau tôi mới hiểu ra hình vẽ này có hiệu quả gợi dục nơi đàn ông, nhưng nhìn chung thì nó giống như người phụ nữ nhìn ra bên ngoài qua những kẽ hở của ngón tay mình. Thực ra người geisha để trống mép da chạy quanh chân tóc của mình để chứng tỏ hành động hóa trang của mình là việc nhân tạo, chẳng khác gì cái mặt nạ người ta đeo trong vở kịch thần Noh. Khi người đàn ông ngồi bên cạnh cô ta, thấy cái mặt của cô trang điểm giống như cái mặt nạ ông ta liền khao khát được trông thấy làn da thật bên dưới.
Trong lúc Hatsumono rửa bàn chải , cô ta nhìn mặt tôi trong gương nhiều lần. Cuối cùng cô ta nói:
– Tôi biết cô nghĩ gì rồi. Cô nghĩ cô sẽ không bao giờ đẹp như thế này. Đấy, sự thật là như thế.
Bà Dì lên tiếng đáp.
– Tôi báo cho cô biết là có người cho rằng Chiyo đẹp gái đấy.
– Thì cũng như có người thích mùi cá thối đấy thôi. – Hatsumono nói. Xong cô ta ra lệnh cho chúng tôi ra ngoài để cô ta thay áo lót.
Bà Dì và tôi ra đứng ở khoảng trống đầu cầu thang, nơi ông Bekku đang đứng đợi gần bên tấm gương cao soi được cả người, trông ông ta giống cái hôm ông dẫn tôi và Satsu vào đây. Tuần đầu sống ở nhà dạy kỹ nữ tôi mới hiểu nghề của ông không phải là lôi các cô gái ra khỏi nhà của họ, mà ông là thợ may hàng ngày ông đến đây để giúp Hatsumono mặc kimono cho đẹp.
Chiếc áo mà Hatsumono sẽ mặc tối ấy được treo trên giá gần tấm gương. Bà Dì đứng vuốt ve cái áo cho đến khi Hatsumono đi ra, trên người chỉ mặc cái áo lót màu rỉ thật đẹp, trang trí bằng hình những chiếc lá màu vàng đậm. Lúc ấy những việc xảy ra tiếp theo không làm cho tôi quan tâm lắm vì bộ áo kimono phức tạp sẽ làm cho những ai không quen mặc cảm thấy bối rối. Nhưng nếu việc mặc áo được giải thích rõ ràng thì cũng rất hay.
Thoạt tiên anh phải hiểu rằng một bà nội trợ và một cô geisha mặc áo kimono rất khác nhau. Khi bà nội trợ mặc kimono, bà ta sẽ dùng đủ thứ chêm để cái áo khỏi chụm vào nhau khó coi, và kết quả của việc chêm này là làm cho người bà ta thẳng đuột như cái cột đình. Nhưng geisha mặc kimono thường không cần chêm, và việc làm cho áo không bị chụm lại không phải là vấn đề khó khăn. Cả bà nội trợ và cô geisha trước hết phải cởi áo ra rồi vấn quanh hông một dung lụa; chúng tôi gọi dung lụa này Koshimaki – lụa vấn hông. Tiếp theo họ mặc ra bên ngoài váy lót kimono cụt tay, áo này mặc sát vào eo, rồi các thứ chêm trong như những cái gối nhỏ có dây xung quanh để buộc chúng vào người cho chắc. Trường hợp Hatsumono thì khác, vì người cô ta mảnh mai, hông nhỏ, mà cô ta đã quen mặc kimono nhiều năm rồi, nên cô ta không dùng các miếng chêm.
Cho nên tất cả những thứ mặc thêm vào người ấy, phải cho thật kín khi mặc áo ngoài vào. Nhưng cái áo tiếp theo, cái áo lót, thực ra không hẳn là áo lót. Khi cô gái geisha biểu diễn múa hay thỉnh thỏang đi ngoài đường, cô ta có thể đưa tay trái nâng áo kimono cho khỏi vướng. Khi ấy họ sẽ để lộ chiếc áo lót ra từ đầu gối trở xuống, cho nên hình trang trí trên chiếc áo lót cũng phải phù hợp với hình trên chiếc kimono. Và cái cổ lót cũng được để lộ ra ngoài, y như cổ áo sơ mi của đàn ông khi họ mặc đồ vest vậy. Công việc của bà Dì là phải khâu cổ áo mỗi ngày vào chiếc áo lót nào mà Hatsumono định mặc, rồi sáng hôm sau tháo ra để giặt sạch. Các geisha đang học nghề mang cổ áo màu đỏ, nhưng dĩ nhiên Hatsumono không phải là geisha đang học nghề, cổ áo cô ta màu trắng.
Khi Hatsumono ra khỏi phòng, cô ta mang đủ thứ trên người như tôi vừa nói – nhưng chúng tôi không thấy gì hết ngoài cái áo lót, áo này có dây buộc chặt quanh eo, ngoài ra cô ta mang đôi vớ trắng mà chúng tôi gọi là tabi, vớ có nút cài dọc theo một bên rất sít sao. Như thể cô ta chỉ còn đợi ông Bekku mặc áo kimono ra bên ngoài nữa thôi. Nhìn cảnh ông Bekku mặc áo cho cô ta, người ta mới hiểu tại sao vai trò của ông ta là cần thiết. Áo kimono có chiều dài bằng nhau, nên ngoại trừ những ai thật cao mới mặc vừa, còn người khác khi mặc vào, phải xếp bớt lên ở dưới chiếc khăn quàng lưng. Khi ông Bekku xếp vải thừa lên ở eo và buộc sợi dây cho nó đứng yên tại chỗ, ta không thấy có chỗ nào phồng lên hết. Thảng hoặc có chỗ nào phồng lên, ông uốn chỗ này, nắn chỗ kia sao cho chỗ gấp phẳng phiu mới thôi. Khi ông ta làm xong, chiếc áo ôm sát vào cơ thể mỹ miều của cô Hatsumono.
Ông Bekku là thợ may, nên ông còn phải buộc thắt lưng nữa, công việc này không đơn giản như người ta tưởng. Dải thắt lưng của Hatsumono dài gấp hai lần giải thắt lưng của người đàn ông cao lớn, và rộng bằng vai của phụ nữ. Khi quấn quanh eo, nó phủ kín từ xương ngực cho đến qua lỗ rốn. Nhiều người không biết, cứ tưởng dải thắt lưng chỉ được buộc từ đàng sau như sợi dây, không phải thế. Cả nửa tá dây và móc được sử dụng để giữ cho giải thắt lưng đứng yên ở vị trí cố định, và có rất nhiều đồ đệm để hình thành cái gút. Ông Bekku phải mất nhiều phút để buộc giả thắt lưng cho Hatsumono. Khi ông ta làm xong, giải thắt lưng không có một nếp nhăn, dày và nặng trịch.
Hôm ấy khi đứng ở cầu thang, tôi biết rất ít về việc này, nhưng tôi nhớ ông Bekku đã buộc dây và căng vải áo với vẻ rất nhiệt tình, và Hatsumono chỉ có việc giang hai tay ra, và nhìn trong gương. Nhìn cô ta, tôi cảm thấy khổ sở và ghen tị. Áo kimono của cô ta được thêu màu nâu và vàng. Phía dưới eo, hình con nai được thêu màu nâu đậm đang húc mũi vào đám lá vàng sẫm trong rừng. Chiếc thắt lưng có màu mận, xen kẽ những sợi chỉ bạc. Khi ấy tôi chưa biết, nhưng bộ trang phục của cô ta có giá tiền bằng cả năm lương của một cảnh sát viên hay một nhân viên nhà hàng. Thế nhưng khi nhìn Hatsumono đứng đấy, khi cô ta quay người để soi mình vào gương, anh mới biết, có nhiều tiền chưa chắc đã tạo ra được một phụ nữ đẹp lộng lẫy như thế được.
Công việc còn lại là trang sức trên mặt, trên tóc. Bà Dì và tôi theo Hatsumono vào phòng, cô quỳ xuống trước bàn trang điểm, lấy ra cái hộp sơn mài nhỏ đựng son tô môi. Cô ta dùng bàn chải nhỏ để tô môi. Thời trang lúc ấy là không tô son ở môi trên, để cho môi dưới trông đầy hơn. Cái mặt phết trắng tạo cho người ta cảm giác hiếu kỳ, nếu cô geisha tô hết cả hai môi, miệng cô ta sẽ giống như hai lát cá ngừ lớn. Thế cho nên các geisha chỉ thích tô môi có hình trề ra một tí, để nó có vẻ như đóa violet chớm nở. Nhưng trường hợp này chỉ có nàng geisha nào có môi trề mới tô được – mà số này thì ít – cho nên họ thường tô môi với hình tròn. Nhưng như tôi đã nói, thời trang lúc ấy chỉ là tô môi dưới nên Hatsumono cũng làm thế.
Sau đó Hatsumono lấy que gỗ ngô đồng ra, cái que mà cô ta đã cho tôi thấy trước đó, cô ta quẹt diêm đốt cháy một đầu, que gỗ cháy vài giây, cô ta thổi tắt đi rồi dùng đầu ngón tay bóp nguội và nhìn vào gương, tô đầy que cháy thành than lên lông mày. Cặp lông mày có màu xám nhạt rất đẹp. Xong xuôi, cô ta đến tủ chọn đồ trang sức ở tóc, gồm cái kẹp bằng đồi mồi và kim cài tóc có đính ở đầu kim một chùm ngọc thật tuyệt. Khi cài lên tóc xong, cô ta bôi nước hoa ra sau gáy, rồi nhét chai nước hoa có hình lép vào khăn quàng lưng để phòng khi cần dùng. Cô ta còn nhét cái quạt xếp gọn vào dây lưng và để khăn tay vào trong ống tay áo bên phải. Xong, cô ta quay qua nhìn tôi. Cô ta nhếch mép cười như hồi nãy, và ngay cả bà Dì cũng phải thở dài, vì Hatsumono khi ấy thật tuyệt vời.                                              

 

Đời kỹ nữChương 6

 

Cho dù chúng tôi có nghĩ thế nào về Hatsumono, cô ta vẫn như bà hoàng trong nhà kỹ nữ, vì cô làm ra tiền cho cả nhà sinh sống. Vì là bà hoàng nên mỗi tối khi cô ta về khuya mà thấy lâu đài của mình tối tăm và gia nhân đều ngủ hết thì cô ta có quyền bất bình. Nghĩa là cô ta về nhà mà quá say không cởi nút vớ ra được, thì phải có người đến cởi cho cô; và nếu đói bụng, chắc cô ta không xuống bếp để làm thức ăn như là món Uboshomi Ochazuke chẳng hạn, vì đây là món ăn qua loa cô ta rất thích, gồm có cơm nguội với mận dầm dấm, ăn xong uống với trà nóng. Thực ra thì trong nhà chúng tôi rất thường ăn món này. Công việc chờ để đón nàng geisha về nhà là công việc dành cho “lính mới ” trong nhà – thường là người mới tập sự làm geisha. Khi tôi bắt đầu đến trường, lính mới trong nhà là tôi. Thường thường Bí Ngô và hai chị giúp việc lớn tuổi đều ngủ khò trước nửa đêm từ lâu, họ ngủ trên tấm nệm trải trên sàn nhà, cách hành lang trước nhà chừng một thước, nhưng tôi phải quỳ ở ngoài hành lang gần cửa, cố thức để đón cô ta, nhiều khi khuya đến gần hai giờ sáng. Phòng của Bà Ngọai ở gần đấy, khi ngủ bà để đèn sáng và cánh cửa hé mở. Một đường ánh sáng chiếu lên tấm nệm trống không của tôi, khiến tôi nghĩ đến ngày trước khi chị Satsu và tôi đi khỏi nhà không lâu, khi ấy tôi thường nhìn ra phòng sau, nơi mẹ tôi nằm ngủ. Bố tôi đã lấy lưới đánh cá phủ lên màn giấy để làm cho căn phòng tối đi nhưng tôi thấy quá âm u ảm đạm nên tôi mở hé một cánh cửa sổ, và ánh mặt trời chiếu lên nệm mẹ tôi nằm một đường sáng, làm lộ rõ bàn tay xanh xao ầy gò của bà. Khi nhìn ánh sáng vàng vọt tữ phòng Bà Ngọai chiếu lên tấm nệm của tôi, tôi phân vân tự hỏi không biết mẹ tôi còn sống hay không. Mẹ tôi và tôi rất giống nhau cho nên tôi nghĩ nếu mẹ tôi chết, chắc thế nào tôi cũng biết, nhưng dĩ nhiên, tôi không có cách nào để hỏi cho ra.
Một đêm khi mùa thu bắt đầu trở lạnh, tôi đang gật gù dựa người vào cột nhà thì bỗng tôi nghe tiếng cửa ngòai cổng xịch mở. Nếu Hatsumono thấy tôi ngủ gục, thế nào cô ta cũng tức giận, nên tôi cố hết sức để giữ cho mình tỉnh táo. Nhng khi cửa trong nhà mở, tôi kinh ngạc thấy một người đàn ông mặc áo khoác công nhân rộng thùng thình, theo kiểu cổ truyền có dây buộc ở bụng và măc quần nhà quê – mặc dù ông ta không có vẻ gì là công nhân hay nhà quê – hiện ra. Tóc ông ta chải dầu láng bóng theo kiểu tân thời, và ông ta để bộ râu râm rì trong có vẻ trí thức. Ông ta khom người xuống, nắm lấy đầu tôi trong hai tay, nhìn đăm đăm vào mặt tôi. Ông ta thì thào nói bên tai tôi:
– Trời ơi cô đẹp quá! Tên cô là gì?
Tôi đoán chắc ông ta là công nhân nhưng tôi không hiểu tại sao ông ta đến đây khuya khoắt như thế này. Tôi lo sợ không muốn trả lời, nhưng tôi cũng nói cho ông ta biết, rồi ông thè lưỡi thấm ướt đầu ngón tay và sờ vào má tôi – thì ra ông lấy sợi lông mi dính ở đấy.
– Yoko còn ở đây không? – ông ta hỏi.
Yoko là người thiếu nữ hàng ngày làm việc tại đây từ giữa trưa cho đến khuya, cô ta ngồi trực điện thọai tại phòng của tôi tớ. Vào thời ấy, nhà kỹ nữ và các phòng trà ở Gion liên lạc với nhau bằng hệ thống điện thoại riêng biệt, và Yoko là người bận rộn nhất trong nhà, vì cô ta phải trả lời điện thoại để ghi chép công việc làm ăn của Hatsumono vào sổ, có khi có những giao kèo với những buổi tiệc lớn tiệc nhỏ tổ chức từ sáu tháng cho đến một năm sau. Thường khi, Hatsumono không thực hiện đầy đủ theo kế họach đến sáng hôm trước, cho nên buổi tối là điện thoại ở các phòng trà gọi đến tới tấp cho biết khách hàng muốn cô ta ghé lại đấy nếu cô ta có thì giờ. Nhưng tối ấy điện thoại không reo nhiều và tôi nghĩ có lẽ Yoko đã ngủ như tôi vậy. Người đàn ông không đợi tôi trả lời, ông ta ra dấu bảo tôi im lặng rồi đi theo hành lang đất đến phòng của tôi tớ.
Sau đó tôi nghe tiếng Yoko xin lỗi – vì cô ta đã đi ngủ thật – rồi cô ta nói chuyện với nhân viên tổng đài điện thoại một hồi lâu. Cô ta phải nối đường dây với nhiều phòng trà khác nhau mới tìm ra được Hatsumono ở đâu, để nhắn lại cho cô ta biết rằng diễn viên kịch nghệ Kabuki tên Onoe Shikan đã đến thành phố rồi. Lúc ấy tôi không biết chuyện này, nhưng thật ra không có Onoe Shikan gì hết, đấy chỉ là mật mã.
Sau đấy Yoko ra về. Cô ta không bận tâm về việc có người đàn ông đang ngồi đợi trong phòng tôi tớ, cho nên tôi nghĩ tôi cũng không nên nói cho ai biết về chuyện này. Chuyện tôi không nói thế mà hóa hay, vì hai mươi phút sau Hatsumono về đến nhà, cô ta dừng lại ở hành lang trước nhà và nói với tôi:
– Tôi chưa có hành động gì làm hại đến cô hết đấy nhé. Nhưng nếu cô nói với ai là có một người đàn ông đến đây, hay thậm chí nói tôi về nhà sớm hơn mọi khi, thì tình hình sẽ thay đổi hoàn toàn đấy.
Cô ta đứng nhìn tôi đăm đăm khi nói như thế và khi cô ta đưa tay vào ống tay áo để lấy cái gì đấy, mặc dù ánh sáng lờ mờ, tôi cũng thấy cánh tay trước của cô ta ửng đỏ. Cô ta đi vào phòng tôi tớ, đóng cửa lại. Tôi nghe có tiếng nói chuyện rì rầm rồi cả nhà im lặng. Thỉnh thoảng tôi nghe như có tiếng thút thít hay tiếng rên nho nhỏ nhưng tôi không biết có ai khác nghe thấy các thứ tiếng ấy không. Tôi không biết họ làm gì trong ấy, nhưng tôi nghĩ chắc họ làm cái trò như chị tôi kéo áo tắm lên quá vai cho anh chàng Sugi nghịch ngợm. Và tôi có cảm giác vừa ghê tởm vừa hiếu kỳ, thậm chí tôi nghĩ nếu tôi được phép đi khỏi vị trí của tôi, tôi cũng không đi.
Khoảng một tuần một lần, Hatsumono và ông bạn của cô ta – thì ra ông ta là ông chủ tiệm mì sợi gần đấy – đến nhà kỹ nữ, vào phòng đầy tớ và đóng cửa lại. Họ còn gặp nhau nhiều lần ở các nơi khác nữa. Tôi biết được thế là vì Yoko thường được ông ta nhờ nhắn tin, thỉnh thỏang tôi nghe được. Tất cả các người giúp việc trong nhà đều biết Hatsumono làm gì. Nhưng vì cô ta có nhiều quyền đối với chúng tôi quá, nên không ai dám nói cho Mẹ hay Bà Ngọai hay Dì biết. Khi Hatsumono có bồ và thỉnh thoảng mang anh ta về nhà như thế, chắc thế nào cô ta cũng gặp phải chuyện khó khăn. Thời gian cô ta ở với người tình thì không có thu nhập, thậm chí cô ta phải vắng mặt ở các buổi tiệc hay các phòng trà, nơi mà cô ta hái ra tiền. Ngoài ra bất kỳ một người đàn ông giàu có nào xuất ra một số tiền lớn để bao cô ta trong thời hạn lâu ngày, thế nào họ cũng nghĩ xấu về cô, và họ sẽ thay đổi ý kiến nếu họ biết cô ta đang gian díu với anh chàng chủ hàng mì sợi.
Một đêm khi tôi vừa ra giếng ở ngoài sân uống nước, khi vào nhà tôi bỗng nghe cửa mở và có tiếng đấm mạnh vào khung cửa. Rồi tôi nghe tiếng nói ồm ồm vang lên:
– Kia kìa Hatsumnono, cô làm mọi người thức dậy…
Tôi không hiểu tại sao Hatsumono liều mạng đem bạn trai về nhà kỹ nữ như thê, mặc dù có lẽ làm thế cô ta sẽ khoái hơn. Nhưng trước đó chưa bao giờ cô ta tỏ ra quá bất cẩn để gây ra ồn ào như thế. Tôi vội vã về chỗ, quỳ xuống; một lát sau Hatsumono đi vào hành lang trước, tay ôm hai gói giấy. Rồi tiếp theo, một geisha khác bước vào, cô này quá cao đến nỗi phải cúi đầu khi đi qua cửa. Khi cô ta đứng thẳng lên và nhìn xuống tôi, tôi thấy mặt cô ta dài còn hai môi thì dày trịch. Không ai có thể cho cô ta là đẹp được.
– Đây là con ở mạt rệp của chúng tôi – Hatsumono nói – Nó có tên hẳn hoi, nhưng chị cứ gọi nó là “cô bé ngốc” .
– Này Cô bé ngốc – cô geisha nói – đi kiếm đồ gì uống cho chị cả mày và tao có được không?
Cái giọng ồm ồm tôi nghe được là của cô ta chứ không phải của ông bồ Hatsumono.
Thường khi Hatsumono thích uống loại rượu sakê đặc biệt gọi là Amakuchi – lọai rượu nhẹ và ngọt. Nhưng lọai rượu này chỉ được cất vào mùa đông và bây giờ trong nhà đã hết. Cho nên tôi rót hai ly bia đem ra cho họ, Hatsumono và cô bạn đã đi ra sân sau, họ mang guốc gỗ và đứng trong hành lang đất. Tôi thấy hai người đã say mà bạn của Hatsumono có đôi bàn chân thật bự, nên khi đi đôi guốc gỗ của chúng tôi, cô ta đi rất khó khăn, khiến hai người phá ra cười. Chắc anh còn nhớ tôi đã nói cho anh biết bên hành lang đất còn có một hành lang lát gỗ chạy ra sân sau. Hatsumono để hai gói giấy trên hành lang gỗ ấy và khi cô ta định mở ra một gói thì tôi mang bia đến.
– Tao không thèm uống bia – cô ta nói rồi đổ hết hai ly bia đi.
– Mình thích uống bia – cô bạn nói, nhưng trễ quá rồi –sao bạn lại đổ bia của mình đi?
– Thôi yên lặng đi, Korin – Hatsumono đáp – Chị khỏi cần uống thêm nữa làm gì. Bây giờ nhìn cái này mà xem, chị sẽ chết giấc vì sung sướng khi trông thấy!
Nói đến đây Hatsumono tháo dây một gói giấy rồi trải ra trên nền ván của hành lang một chiếc kimono thật đẹp, nền áo có màu lục nhạt không đều nhau, trên nền vẽ một cây nho có những chiếc lá đỏ. Áo may bằng một thứ lụa hảo hạng – nhưng hợp cho mùa hè, mà bây giờ trời đã sang thu, mặc không hợp. Bạn của Hatsumono, Korin, ngẩn ngơ nhìn cái áo, chị há hốc mồm kinh ngạc, miệng nuốt nước miếng ừng ực. Hai người lại phá ra cười. Tôi thấy đã đến lúc xin phép rút lui, nhưng Hatsumono nói:
– Khoan đi, Cô bé ngốc – Xong cô ta quay qua cô bạn và nói – Chị Korin, đến lúc vui rồi đấy. Chị đoán thử xem chiếc kimono này là của ai nào?
Korin còn đang ho sặc sụa, nhưng khi có thể nói được, cô ta trả lời:
– Ước chi nó là của tôi!
– Không phải, nó là của cô gái geisha mà cả hai chúng ta đều ghét cay ghét đắng trên đời này.
– Ồ, Hatsumono, chị là thiên tài! Nhưng tại sao chị lại có áo của Satoka?
– Tôi đâu có nói đây là áo của Satoka? Tôi muốn nói đến cô Hoàn Hảo kìa.
– Ai?
– Cô “Tôi là người giỏi nhất thiên hạ” đấy. Cô ấy đấy.
im lặng một hồi rồi Korin nói:
– Cô Mameha hả? Trời đất, đấy là áo của Mameha mà tôi nhìn không ra! Làm sao chị có được áo của cô ta?
– Cách đây it hôm, tôi có để quên đồ ở nhà hát Kaburenjo trong lúc diễn tập. – Hatsumono đáp – Khi trở lại để tìm, bỗng tôi nghe có tiếng như tiếng rên dưới chân cầu thang. Tôi nghĩ “Lẽ nào lại thế? Thế thì quá vui rồi còn gì?” Khi tôi bò xuống, bật đèn lên, chị hãy đoán thử những ai đang hôn nhau nằm dưới nền nhà như hai hạt cơm dính vào nhau?
– Thật khó tin. Mameha à?
– Đừng điên! Cô ta quá đoan chính không làm việc ấy đâu. Đó là con ở của cô ta, nó nằm với thằng bảo vệ nhà hát. Tôi nghĩ nó sẽ làm bất cứ cái gì tôi sai bảo để tôi khỏi nói lại cho chủ nó biết, cho nên sau đó tôi tìm nó, bảo nó lấy cho tôi cái áo kmono của Mameha cho tôi. Nó khóc khi tôi miêu tả cái áo mà tôi muốn có.
– Còn cái gói kia là gì? – Korin hỏi , chỉ vào cái gói thứ hai trên hành lang, đang còn dây buộc.
– Cái này tôi bảo nó xuất tiền túi của nó ra mà mua cho tôi, và bây giờ nó thuộc về tôi.
– Tiền túi à? Nó là loại con ở gì mà có tiền mua áo kimono?
– Ờ, nó nói nó không mua, nhưng nó đào đâu ra được cái áo này thì tôi không biết. Dù sao thì Cô bé ngốc cũng phải đem những cái áo này cất vào trong nhà kho cho tôi.
– Thưa cô Hatsumono, tôi không được phép vào nhà kho – tôi liền trả lời .
– Nếu mày muốn biết chị mày ở đâu thì tối nay đừng để cho tao nói lần thứ hai. Tao đã có dự kiến cho mày rồi. Sau đó mày có thể hỏi tao một câu, tao sẽ trả lời cho.
Thú thật tôi không tin cô ta, nhưng dĩ nhiên Hatsumono có khả năng làm cho tôi gánh chịu mọi thống khổ nếu cô ta muốn cho nên tôi chỉ còn nước vâng lời mà thôi.
Cô ta ấn cái áo kimono – gói trong giấy dày – vào tay tôi rồi dẫn tôi đi ra phía nhà kho ở cuối sân. Cô ta mở cửa nhà kho rồi quẹt diêm lên. Tôi thấy các kệ chất vải trải trên nệm, gối, cùng nhiều tủ khóa kín và vài cái nệm xếp lại. Hatsumono nắm cánh tay tôi rồi chỉ cái thang ở sát vách.
– Áo kimono cất ở trên ấy – cô ta nói.
Tôi leo lên, mở cánh cửa đẩy bằng gỗ ra. Kho trên này không có kệ như ở tầng dưới . Nhưng dọc theo vách sắp những cái rương sơn mài màu đỏ, cái này chồng lên cái kia cao đến tận trần nhà. Một lối đi hẹp chạy giữa hai dãy rương, cuối lối đi có cửa sổ lá sách phủ màn giấy cho thoáng khí. Ánh sáng trong kho cũng lờ mờ như ở dưới, nhưng có phần sáng hơn chút đỉnh, cho nên khi tôi bước vào trong, tôi có thể đọc được những chữ khắc màu đen vào trước rương. Đại loại như thế này:
Kata Komon, Ro – mẫu in khuôn lụa dệt nổi, rồi, Kuromonstuki Awase – áo dạ hội lót bông. Thú thật là khi ấy tôi đọc không hiểu hết các chữ viết, nhưng tôi cố tìm cái rương có tên của Hatsumono để trên cao hết, phải khó khăn lắm tôi mới bê xuống được. Nhưng trong rương chỉ có vài cái kimono thôi, nên tôi để cái gói kimono vào dễ dàng và bê cái rương đặt vào chỗ cũ. Vì hiếu kỳ, tôi mở vội vài cái rương khác ra xem, một cái chất đầy áo kimono, có đến 15 cái là ít, và những rương khác cũng chất đầy áo như thế. Nhìn kho chất đầy rương đựng áo kimono như thế, tôi bỗng hiểu ra tại sao Bà Ngoại lại sợ hỏa hoạn đến vậy. Số áo kimono trong kho này trị giá bằng tài sản hai làng Yoroido và Senzuru cộng lại như chơi. Và sau này tôi biết thêm là hầu hết áo có giá trị đắt nhất được cất ở một chỗ khác nữa. Số áo ở đây chỉ được các geisha tập sự mặc thôi, và vì Hatsumono không mặc nữa nên chúng được cất vào kho cho thuê để được bảo quản tốt hầu sau này đem ra dùng lại .
Khi tôi xuống, Hatsumono đã lên phòng cô ta để lấy cái nghiên mực, và thỏi mực xạ cùng cây bút lông để viết. Tôi nghĩ cô ta muốn viết vài lời gì đấy để bỏ vào trong chiếc áo kimono khi cô ta xếp lại. Cô ta đã nhỏ vài giọt nước giếng vào trong nghiên mực và cô ngồi xuống trên hành lang gỗ để mài mực. Khi nước trong nghiên đã đủ đậm, cô chấm đầu bút lông vào rồi vuốt lên thành nghiên, để cho mực thấm hết vào bút mà không giọt ra ngoài, rồi cô ta để bút vào tay tôi, đưa tay tôi lên chiếc kimono và nói:
– Tập viết đi, bé Chiyo.
Áo kimono của geisha có tên Mameha – lúc ấy tôi chưa bao giờ nghe nói đến cô ta – là một tác phẩm nghệ thuật. Người ta dệt hình một cây nho từ dưới lai áo cho đến bụng thật đẹp, hình dệt bằng chỉ màu xoắn vào nhau như những sợi dây cáp nhỏ. Hình dệt trên vải, nhưng nhìn vào ta thấy như một cây nho thật, tôi có cảm giác tôi có thể sờ vào thân cây được, và nếu muốn, tôi có thể nhổ cây nho lên khỏi mặt đất. Những ngọn lá ôm quanh thân cây có vẻ như lá thật bị thời tiết mùa thu làm cho phai màu khô héo đang ngả sang màu vàng.
– Tôi không viết được đâu, thưa cô Hatsumono – Tôi thét lên.
– Xấu hổ thế bé cưng – bạn cô ta nói với tôi – vì nếu cô làm cho cô Hatsumono nói lại lần nữa thì chắc cô sẽ hết hy vọng tìm ra chị cô.
– Ồ im đi, Korin. Chiyo đã biết cô ta sẽ làm những gì tôi bảo cô ta làm. Cô Ngốc ơi, viết chữ gì lên áo đi, chữ gì cũng được, tôi cóc cần.
Khi ngọn bút lông chạm vào chiếc kimono, Korin quá bị kích thích đến nỗi cô ta thét lên và tiếng thét đã làm cho một chị giúp việc thức dậy, chị ta chạy ra hành lang, khăn quấn đầu tụt xuống và áo ngủ xộc xệch quanh người. Hatsumono dậm mạnh chân xuống nền nhà và làm ra vẻ nhào đến đánh chị ta, làm chị ta nhanh chân chạy vào buồng trở lại. Korin đau khổ khi thấy tôi hạ những nét bút vụng về lên mặt lụa có màu lục nhạt, cho nên Hatsumono chỉ cho tôi phải viết chỗ nào và viết cái gì. Những chữ cô ta đọc cho tôi viết chẳng có nghĩa gì hết, Hatsumono sáng tạo nghệ thuật theo trường phái riêng của cô ta. Sau đó cô ta xếp áo kimono lại, gói vào giấy và buộc dây. Cô ta và Korin đi ra cửa, mang giày sơn mài vào. Khi họ mở cửa, Hatsumono bảo tôi đi theo.
– Thưa cô Hatsumono, nếu tôi đi ra khỏi cửa mà không có phép, Mẹ sẽ rất tức và…
– Tao cho mày phép – Hatsumono cắt ngang lời tôi – Chúng ta đi trả áo kimono kia mà, đừng chần chừ bắt tao đợi.
Tôi chỉ còn nước mang guốc vào rồi đi theo cô ta ra đường hẻm rồi đi theo con đường phố chạy dọc theo con sông nhỏ Kirakawa. Vào thời ấy đường phố và đường hẻm vẫn còn lát đá rất đẹp. Chúng tôi đi dưới ánh trăng qua chừng một khu phố, bên cạnh hàng anh đào rũ cành trên dòng nước đen, rồi di qua một cây cầu để vào một khu vực khác của Gion mà tôi chưa biết. Bờ sông lát đá, phần lớn đều phủ rêu. Dọc bờ sông, các phòng trà và nhà kỹ nữ ở sát nhau và quay lưng ra phía sông tạo thành một bức tường. Tôi nghe tiếng cười của một nhóm đàn ông và các cô geisha. Chắc trong các phòng trà ấy có chuyện gì vui lắm vì tiếng cười càng lúc càng to cho đến khi tiếng cười tắt hết chỉ còn lại tiếng đàn Shamisen tưng tưng vang lên ở tiệc vui khác. Bỗng tôi nghĩ rằng vùng Gion này là nơi vui chơi cho một số người. Tôi tự hỏi không biết chị Satsu có ở một trong những đám tiệc vui ấy không, mặc dù khi tôi đến phòng đăng ký hộ tịch Gion, ông Awajiumi đã nói với tôi chị không có mặt ở Gion.
Một lát sau Korin và Hatsumono dừng lại trước một cánh cửa gỗ. Hatsumono nói với tôi:
– Mày đem cái áo này lên lầu đưa cho chị giúp việc ở đấy. Hay là nếu cô Hòan Hảo ra mở cửa, mày đưa nó cho cô ta. Đừng nói gì hết, chỉ đưa nó cho cô ta mà thôi. Chúng tao ở đây canh chừng mày.
Nói xong, cô ta để cái gói giấy vào tay tôi, còn Korin kéo cửa mở ra, những bậc thang bằng gỗ dẫn lên một chỗ tối tăm. Tôi run lên vì quá sợ. Tôi đi lên đến giữa cầu thang thì dừng lại. Bỗng tôi nghe Korin nói to trong họng ở phía dưới chân cầu thang:
– Đi đi con kia, không ai ăn thịt mày đâu, trừ phi mày trở xuống với cái kimono trong tay. Khi ấy chắc chúng tao sẽ xơi mày. Đúng không Hatsumono?
Hatsumono chỉ thở dài không nói. Korin cố giương mắt nhìn tôi trong bóng to6’i , nhưng Hatsumono, đứng cao không quá vai Korin, chỉ đứng cắn móng tay mà không lưu tâm đến gì hết. ngay khi ấy, mặc dù đang lo sợ, tôi vẫn không thể không nhìn thấy Hatsumono quá đẹp. Có thể cô ta độc ác như con nhện, nhưng thái độ cô ta đứng cắn móng tay trông thật tuyệt vời, tuyệt hơn bất cứ cô geisha nào đứng như thế để chụp ảnh. Sự tương phản giữa cô ta với Korin giống như đá bên vệ đường với đá quý để làm đồ trang sức. Mặc dù Korin có mái tóc hợp thời trang, có đồ trang sức đẹp đẽ, và mặc áo kimono vừa vặn gọn gàng, nhưng trông cô ta vẫn kệch cỡm, trong khi đó, Hatsumono mặc áo kimono như thể là da thịt của cô.
Lên đến chỗ đầu cầu thang, tôi quỳ xuống trong bóng tối và gọi lớn:
– Xin vui lòng mở cửa.
Tôi đợi nhưng chẳng thấy ai ra. Korin nói vọng lên:
– Gọi to lên, họ không nghe mày đâu.
Tôi gọi to hơn:
– Xin làm ơn mở cửa.
– Xin đợi một lát.
Tôi nghe có tiếng trả lời nho nhỏ và một lát sau cửa mở. Cô gái quỳ ở phía bên kia cửa không lớn hơn Satsu, nhưng gầy gò và nhát gan như con chim. Tôi đưa cho chị ta cái kimono gói trong giấy dày, cô ta rất ngạc nhiên, miễn cưỡng đưa tay lấy.
– Ai thế, cô Asami? – Tiếng hỏi phát ra từ trong nhà.
Tôi thấy cây đèn lồng để trên cái kệ xưa đang cháy ở bên tấm nệm mới trải vải. Tấm nệm là của nàng geisha Mameha, tôi có thể nói như thế là vì vải trải nệm cứng dòn và chăn lụa đẹp đẽ cùng cái takamakura “gối cao” đều giống y như những thứ mà Hatsumono thường dùng. Thực ra đấy không phải là cái gối , mà là cái bệ gỗ có chỗ oằn xuống để tựa cổ lên đó, đây là kiểu gối cho các geisha nằm ngủ để khỏi làm hư mái tóc đẹp đi.
Chị giúp việc không trả lời, nhưng chị mở cái gói giấy ra và cầm chiếc kimono nghiêng qua nghiêng lại trước ánh sáng để nhìn cho rõ. Khi cô ta thấy mực xạ làm bẩn áo, cô ta há hốc mồm kinh ngạc rồi đưa tay bịt mồm lại. Nước mắt tuôn ra hai má, rồi đồng thời có giọng nói cất lên:
– Chị Asami, ai thế?
– Ồ không, thưa cô – chị giúp việc trả lời.
Tôi thấy ái ngại cho chị khi chị vội vã lấy tay áo lau nước mắt. Trong khi chị đưa tay kéo cửa đóng lại, tôi nhìn vào cô chủ. Tôi liền hiểu ra ngay tại sao Hatsumono gọi cô là cô Hoàn Hảo. Khuôn mặt trái xoan thật tuyệt, như mặt con búp bê, mịn màng, thanh tú như đồ sứ, ngay cả khi không hóa trang. Cô ta đi đến phía cửa, cố nhìn xuống phía dưới chân cầu thang, nhưng tôi không thấy cô ta được nữa vì chị giúp việc đã kéo cửa đóng lại rồi.
Sáng hôm sau khi đi học xong về nhà, tôi thấy Mẹ, Bà Ngọai và bà Dì cùng ngồi trong phòng khách ở tầng dưới. Tôi nghĩ chắc họ đang bàn về chuyện cái kimono, và đúng thế, ngay lúc Hatsumono vừa từ ngoài đường đi vào, một người giúp việc đến báo cho Mẹ, bà bước ra hành lang, chặn Hatsumono lại trước khi cô ta lên thang lầu. Bà nói:
– Sáng nay cô Mameha và chị giúp việc của cô ta có đến thăm ta.
– Ồ thưa Mẹ, con biết Mẹ muốn nói gì rồi. Con rất ngao ngán về chuyện cái kimono ấy. Con đã cố ngăn không để Chiyo vấy mực lên đấy mà không kịp! Chắc nó tưởng cái áo ấy là của con. Con không biết tại sao nó ghét con từ ngày nó tới đây đến giờ như thế. Chắc nó nghĩ làm hỏng cái áo kimono đẹp đẽ sẽ khiến cho con đau khổ.
Bấy giờ thì bà Dì tuôn ra hành lang, bà nói lớn:
– Matte mashita!
Tôi hiểu câu nói rất rõ. Câu nói có nghĩa “chúng tôi chờ cô!” Nhưng tôi không hiểu bà ta muốn nói gì. Thật vậy, đây là câu nói có nhiều ý nghĩa. Vì câu này thường được khán giả la lên khi một đại minh tinh xuất hiện trong vở kịch của Kabuki.
– Thưa Dì, bộ Dì nghĩ con có ý định làm hỏng cái áo kimono ấy sao? – Hatsumono hỏi – Tại sao con phải làm vậy chứ?
– Ai cũng biết cô ghét Mameha – Dì trả lời – cô ghét người nào thành công hơn cô.
– Nói thế tức là con thương Dì vì Dì thất bại, phải không ạ?
– Thôi dẹp chuyện ấy đi – Mẹ lên tiếng – Bây giờ hãy nghe tôi nói Hatsumono. Chắc cô cũng biết không ai ngu để tin chuyện của cô đâu. Tôi không thích những ai có tính xấu ở trong nhà này, ngay cả cô. Tôi rất kính nể cô Mameha. Tôi không muốn thấy những chuyện như thế này xảy ra nữa. Về phần chiếc kimono, có người phải trả tiền để đền cho người ta. Đêm qua tôi không biết chuyện xảy ra như thế nào, nhưng chuyện ai cầm bút viết lên đấy thì đã quá rõ ràng rồi. Chị giúp việc đã thấy con bé cầm bút, vậy con bé phải trả thôi – Mẹ nói xong đút ống vố vào miệng.
Đến đây Bà Ngoại đi ra khỏi phòng và lớn tiếng gọi chị giúp việc bảo đem cây roi tre đến cho bà.
– Chiyo có nhiều nợ rồi – bà Dì nói – không lý gì bắt nó phải trả thêm nợ của Hatsumono.
– Chúng ta nói đến chuyện này thế là đủ rồi – Bà Ngọai đáp – con bé phải bị đánh và buộc trả tiền chiếc áo kimono, thế thôi. Cái roi tre đâu rồi?
– Để tôi đánh nó cho – bà Dì nói – Tôi không muốn khớp xương bà sưng lên lại , Bà Ngoại à. Chiyo đến đây.
Bà Dì đợi người giúp việc đem roi đến rồi dẫn tôi xuống sân. Bà ta quá giận, lỗ mũi phồng lên to hơn mọi khi, và cặp mắt nhíu lại như hai nắm tay. Từ ngày tôi đến nhà này, tôi đã cẩn thận không làm gì sai phạm để bị đánh đòn. Bỗng tôi cảm thấy nóng, đá trên lối đi trong sân dưới chân tôi lờ mờ. Nhưng thay vì đánh tôi, bà Dì dựng cây roi tre vào vách nhà kho rồi cúi người hỏi nhỏ tôi:
– Cháu đã làm gì Hatsumono? Cô ấy cố ý hãm hại cháu. Chắc phải có lý do gì, hãy nói cho ta nghe.
– Xin thú thật với Dì, cô ấy đối xử với cháu như thế này từ ngày cháu mới đến. Cháu không biết cháu đã làm gì.
– Bà Ngọai gọi Hatsumono là con điên, nhưng cháu nhớ, cô ta không điên đâu. Nếu cô ta muốn hại sự nghiệp của cháu, cô ta sẽ làm đấy. Bất cứ cái gì cháu làm mà có thể làm cho cô ta nổi giận, cháu phải chấm dứt.
– Nói thật với Dì, cháu không làm gì hết.
– Cháu đừng tin cô ta, ngay cả những việc mà cô ta muốn giúp cháu. Cô ta đã làm cho cháu mắc nợ quá nhiều không sao trả xuể.
– Cháu không hiểu, cháu nợ cái gì ạ?
– Cái trò làm hỏng kimono sẽ làm cho cháu mắc nợ, món nợ quá lớn cho cháu. Ta nói mắc nợ là nợ thế đấy.
– Nhưng…làm sao cháu trả được?
– Khi cháu hành nghề geisha, cháu sẽ trả số nợ ấy cho nhà kỹ nữ, cùng các thứ nợ khác, nợ ăn uống, nợ học tập, nếu cháu bệnh họan, tiền trả cho bác sĩ. Tất cả cháu đều phải trả. Bộ cháu không thấy Mẹ cứ ngồi cả ngày ghi chép những con số vào sổ đấy à? Cháu lại còn nợ nhà kỹ nữ số tiền họ bỏ ra mua cháu nữa.
Qua nhiều tháng ở Gion, tôi đã mường tượng ra cảnh tiền trao tay trước khi Satsu và tôi bị lôi ra khỏi nhà. Tôi thường nghĩ đến câu chuyện tôi đã nghe giữa ông Tanaka và bố tôi, và câu mà bà Loay Hoay đã nói về tôi và chị Satsu, bà đã nói chúng tôi “xứng đáng”. Tôi buồn rầu tự hỏi không biết ông Tanaka đã chấm mút bao nhiêu khi làm trung gian để bán chúng tôi, và bán chúng tôi với giá bao nhiêu. Nhưng không bao giờ tôi nghĩ đến chuyện tôi phải trả lại tiền người ta đã bỏ ra để mua tôi.
– Cháu chỉ trả lui khi cháu đã làm geisha trong một thời gian dài. – bà Dì nói tiếp – và khi cháu thất bại không thành geisha được như ta, thì cháu sẽ không bao giờ trả hết nợ. Có phải cháu muốn tương lai của cháu cũng như ta không?
Bỗng tôi cảm thấy tôi chẳng cần lưu tâm đến tương lai.
– Nếu cháu muốn làm hỏng đời cháu ở Gion, có hàng chục cách để làm – Dì nói tiếp – Cháu có thể tìm cách chạy trốn. Khi cháu làm thế, Mẹ sẽ xem cháu là vốn đầu tư sai lầm, bà ta sẽ không bỏ thêm tiền vào kẻ mà cứ chực có cơ hội là bỏ trốn. Tức là cháu sẽ không được đi học nữa, mà không được đi học thì cháu sẽ không thành geisha được. Hay là cháu không được giáo viên lưu tâm, họ sẽ không dạy cho cháu những điều cần thiết. Hay là cháu lớn lên xấu xí như ta. Khi Bà Ngọai mua ta từ mẹ ta, ta không có nhan sắc, bà đánh ta trối chết vì tội gì đấy khiến ta bị gãy xương chân. Lúc ấy ta chấm dứt nghề geisha. Vì thế hôm nay ta muốn tự tay ta đánh cháu chứ không để Bà Ngoại làm.
Bà dẫn tôi vào hành lang gỗ, bắt tôi nằm sấp xuống. Tôi không quan tâm đến việc bà có đánh tôi hay không, vì tôi thấy hoàn cảnh của tôi quá bi đát rồi. Mỗi lần cây roi nện xuống, tôi nhổm người lên và khóc thật to. Tôi mường tượng ra bộ mặt xinh đẹp của Hatsumono đang tươi cười nhìn tôi. Khi trận đòn chấm dứt, bà Dì để mặc tôi đấy cho tôi khóc. Một lát sau tôi cảm thấy sàn ván của hành lang rung rinh, vì có chân người đi tới, tôi ngồi dậy và thấy Hatsumono đang đứng nhìn tôi.
– Này Chiyo, nếu cô tránh đường cho tôi đi, tôi rất cám ơn cô.
– Cô Hatsumono, cô đã hứa chỉ chỗ chị tôi ở để tôi đi tìm – tôi nói với cô ta như thế.
– Đúng thế – cô ta cúi mặt xuống sát mặt tôi. Tôi tưởng cô ta sẽ nói rằng tôi chưa làm đầy đủ công việc cho cô ta, rằng khi nào cô ta sai tôi làm việc nhiều hơn nữa, cô ta sẽ nói cho tôi biết. Nhưng cô ta không nói thế.
– Chị mày ở trong một Jorou-ra có tên là Tutsuyo – cô ta nói – nằm trong quận Miyagawa-cho, ở phía nam Gion.
Khi nói xong cô ta đạp nhẹ vào tôi và tôi né sang một bên tránh đường cho cô ta đi.                               

 

Đời kỹ nữChương 7

 

Trước đấy tôi chưa bao giờ nghe nói đến từ Jorou-ya, cho nên ngay sáng hôm sau, khi bà Dì làm rớt khay kim chỉ xuống nền nhà ở hành lang trước, và bà bảo tôi giúp bà lượm lên, tôi liền hỏi bà:
– Thưa Dì, nhà Jorou-ya là nhà gì thế?
Bà Dì không trả lời mà tiếp tục cuốn một cuộn chỉ.
– Nhà gì thế, thưa Dì? – Tôi tiếp tục hỏi.
– Đó là loại nhà dành cho Hatsumono nếu cuối cùng nó đáng bị vào đấy.
Bà chỉ nói thế và không hề có ý định nói thêm điều gì nữa cho nên tôi đành phải biết chừng đó thôi.
Câu trả lời như thế là không rõ ràng gì hết, nhưng tôi nghĩ chắc Satsu gặp phải hoàn cảnh còn đau đớn hơn tôi nữa. Cho nên tôi quyết định là ngay khi có cơ hội, tôi sẽ tìm đến cái chỗ có tên Tatsuyo đó liền. Nhưng khổ thay, vì tôi làm hỏng áo kimono của Mameha, nên tôi bị phạt phải ở trong nhà 50 ngày. Tôi chỉ được phép đi học khi có Bí Ngô đi kèm theo, nhưng tôi không được phép đi ra ngoài để làm vài công việc lặt vặt do người trong nhà sai. Tôi nghĩ, nếu tôi muốn, tôi có thể chạy ra ngoài bất cứ lúc nào nhưng tôi biết làm như thế là điên. Trước hết là tôi không biết đường để tìm đến nhà Tatsuyo, rồi điều đáng sợ nhất là ngay khi biết tôi ra ngoài, thế nào người ta cũng phái ông Bekku hay ai đấy đi tìm tôi. Cách đây mấy tháng có một cô giúp việc ở nhà kỹ nữ bên cạnh trốn đi, sáng hôm sau là cô ta bị bắt về. Họ đánh cô ta rất tàn bạo suốt mấy ngày liền, tiếng la khóc của cô ta nghe rất rùng rợn. Nhiều khi tôi phải lấy tay bịt lỗ tai để khỏi phải nghe.
Tôi thấy chỉ còn cách đợi cho hết thời gian 50 ngày rồi hẵng hay. Trong thời gian này tôi cố tìm cách để trả thù Hatsumono và Bà Ngoại vì họ đã đối xử với tôi quá độc ác. Với Hatsumono, tôi trả thù bằng cách cứ mỗi khi người ta sai tôi quét phân chim bồ câu trên các lối đi lát gạch ở trong sân, là tôi lấy một ít phân để trộn vào kem đánh mặt của cô ta. Kem đánh mặt của cô ta đã có trộn phân chim sơn ca rồi, như tôi đã nói với anh, cho nên trộn phân bồ câu có thể không làm hại gì đến da mặt của cô ta, nhưng làm thế tôi thấy vui vui trong lòng. Còn Bà Ngọai, tôi trả thù bằng cách lấy giẻ chùi toa lét lau vào bên trong áo ngủ của bà ta, rồi tôi rất vui sướng khi thấy bà ngửi cái áo rồi tỏ vẻ khó chịu, nhưng bà ta vẫn mặc. Chẳng bao lâu sau tôi nhận ra bà đầu bếp biết việc tôi làm, bà ta trừng phạt tôi thêm ngoài việc làm hỏng áo kimono – mặc dù không ai yêu cầu bà ta làm thế – là cắt phần cá khô mỗi tháng hai lần trong khẩu phần ăn của tôi. Tôi không nghĩ ra được cách gì để trả thù bà ta cho đến một hôm tôi thấy bà ta cầm một cái chày đuổi theo một con chuột trên hành lang. Bà ta còn ghét chuột hơn cả mèo nữa. Cho nên tôi quét phân chuột dưới móng nhà chính đem rải khắp trong nhà bếp. Thậm chí có một hôm tôi lấy chiếc đũa thọc một lỗ dưới đáy bao gạo, khiến bà ta phải moi hết các thứ trong các tủ ra để tìm kiếm bọn gặm nhấm.
Một buổi tối, khi tôi thức để đợi Hatsumono, bỗng tôi nghe có tiếng điện thoại reo, và sau đó một lát, Yoko bước ra, leo lên thang lầu. Khi chị ta đi xuống, chị ta cầm theo cái đàn Shamisen của Hatsumono, cái đàn tháo rời để trong hộp sơn mài. Chị ta nói với tôi:
– Cô đem cái đàn này đến phòng trà Mizuki. Hatsumono đánh cá thua, phải hát và đệm đàn Shamisen theo. Tôi không biết cô ta nghĩ sao mà lại không dùng đàn của phòng trà. Tôi sợ cô ta bể dĩa vì lâu rồi cô ta không đụng đến cây đàn.
Rõ ràng Yoko không biết chuyện tôi bị giam lỏng trong nhà, và chuyện này cũng không đáng ngạc nhiên, chị ta không được phép rời khỏi phòng gia nhân, vì sợ khi có điện thoại gọi đến, không có ai trả lời, và ngoài ra chị ta cũng không được tham dự mọi sinh hoạt trong nhà kỹ nữ. Tôi lấy cây đàn và chị ta mặc áo khoác kimono để chuẩn bị về nhà ngủ. Sau khi nghe chị ta chỉ đường để đến phòng trà Mizuki, tôi ra cửa mang giày, lòng bồi hồi lo sợ có người ngăn lại. Các chị giúp việc và Bí Ngô – kể cả ba bà già – đều ngủ hết. còn Yoko chỉ ít phút nữa thôi là ra về. Tôi cảm thấy cuối cùng cơ hội tìm ra chị tôi đã đến.
Tôi nghe có tiếng sấm và trời có vẻ sắp mưa. Cho nên tôi vội vã đi nhanh, qua mặt từng đám đàn ông và geisha. Nhiều người nhìn tôi với ánh mắt nghi ngại, vì thời ấy có nhiều người, đàn ông cũng như đàn bà, làm nghề mang đàn thuê. Họ thường là những người lớn tuổi, không có con nít làm nghề này. Cho nên tôi nghĩ có lẽ có nhiều người thấy tôi đi qua, họ nghĩ tôi đã ăn trộm đàn của ai.
Khi tôi đến phòng trà Mizuki, trời bắt đầu mưa, nhưng vì mặt tiền của nhà hàng quá sang cho nên tôi sợ không dám bước vào. Trước ngõ vào có treo một bức màn, nhìn xuyên qua bức màn, tôi thấy những bức tường sơn màu vàng cam, dưới chân tường áp gỗ mun. Một con đường lát đá được chùi bóng lộn dẫn đến một cái bình lớn cắm nhiều cành thích uốn lượn vào nhau, lá thích mùa thu có màu đỏ óng ánh. Cuối cùng, tôi lấy can đảm bước qua bức màn nhỏ. Đến gần bình hoa, tôi thấy một lối đi thoáng đãng rẽ về một bên, nền nhà lát đá granit láng bóng. Tôi nhớ khi đó tôi quá đỗi ngạc nhiên không phải chỉ vì lối vào phòng trà đẹp mà thôi, tôi còn ngạc nhiên khi thấy con đường dẫn vào cửa phòng trà cũng đẹp. Tôi nghĩ có lẽ đây là lần đầu tiên tôi trông thấy một phòng trà của Nhật đẹp tuyệt vời như thế. Phòng trà không phải là nơi để uống trà, mà là nơi các ông đến để vui chơi giải trí bên các nàng geisha.
Khi tôi đi đến phía cửa, cánh cửa mở ra. một cô giúp việc quỳ trên nền nhà phía trong cửa, nền nhà cao hơn ngoài, cô ta nhìn tôi, chắc cô ta đã nghe tiếng giầy gỗ của tôi gõ lộp cộp trên nền nhà nên cô mở cửa ra. Cô ta mặc một cái áo kimono màu xanh đậm đẹp, áo có hình trang trí đơn giản màu xám. Nếu cách đây một năm, chắc tôi sẽ tưởng cô ta là cô tiểu chủ của ngôi nhà đẹp lộng lẫy này, nhưng bấy giờ sau những tháng sống ở Gion, tôi nhận ra chiếc kimono trên người cô – mặc dù đẹp hơn bất kỳ áo của ai ở Yoroido – quá giản dị không hợp với giới geisha hay với cô chủ của phòng trà. Và dĩ nhiên kiểu tóc của cô ta cũng tầm thường, thế nhưng cô ta vẫn sang hơn tôi nhiều, cho nên cô ta nhìn tôi với vẻ khinh khỉnh.
– Đi ra phía sau – cô ta nói.
– Cô Hatsumono nhờ tôi…
– Đi ra phía sau! – Cô ta lặp lại và đưa tay kéo cửa đóng lại trước mặt tôi, không đợi tôi trả lời.
Bây giờ mưa đã lớn, cho nên tôi chạy theo con đường nhỏ bên hông phòng trà. Khi tôi đến lối vào ở phía sau, cửa mở ra, và cũng chính cô giúp việc ấy quỳ ở đấy đợi tôi. Cô ta không nói một tiếng mà chỉ lấy cây đàn trên tay tôi.
– Thưa cô, tôi xin phép hỏi cô một việc này được không? Nhờ cô chỉ đường đến quận Miyagawa được không ạ?
– Tại sao cô muốn đến đấy?
– Tôi đi lấy đồ.
Cô ta nhìn tôi với vẻ hồ nghi, nhưng rồi cô ta cũng chỉ cho tôi đường đi dọc theo bờ sông cho đến khi đi quá nhà hát Minamiza là đến quận Miyagawa.
Tôi định đứng dưới mái nhà núp cho đến khi trời hết mưa. Khi tôi đứng nhìn quanh, tôi thấy bên cạnh tôi có chiếc hàng rào thưa, nhìn qua hàng rào, tôi thấy chái nhà bên cạnh. Trước nhà là khu vườn thật đẹp và nhà có cửa sổ bằng kính. Trong căn phòng lát thảm rơm mỹ lệ tràn ngập ánh sáng màu cam đang diễn ra cảnh một buổi tiệc gồm nhiều đàn ông và geisha, họ ngồi quanh một cái bàn lớn, trước mặt họ là những chén uống rượu sake và ly uống bia. Hatsumono cũng có mặt tại đấy, một ông già mắt kèm nhèm hình như đang kể chuyện. Hatsumono có vẻ đang thích thú vì cái gì đấy, nhưng chắc không phải về câu chuyện ông già đang kể. Cô ta nhìn vào một geisha khác, cô này ngồi quay lưng lại phía tôi, tôi sực nhớ đến lần tôi và con gái ông Tanaka, Kumiko, nhìn vào phòng trà và tôi có một cảm giác nặng nề, cảm giác mà tôi đã có, khi đứng trước những ngôi mộ của gia đình của người vợ đầu của bố tôi, như thể lòng đất đã lôi tôi xuống. Ý nghĩ ấy hiện ra trong óc tôi và lớn lên mãi, cho đến khi tôi không thể nào làm ngơ được nữa. Tôi muốn xua đuổi ý nghĩ ấy ra khỏi trí óc tôi, nhưng tôi không có khả năng ngăn cản nó xâm chiếm lấy trí óc tôi, giống như không thể ngăn cản gió thổi vậy. Cho nên tôi đi lui, ngồi phịch xuống ở bậc đá ngay lối vào, dựa lưng lên cửa mà khóc. Tôi không thể ngăn được trí óc tôi nghĩ đến ông Tanaka. Ông ta đã lôi tôi ra khỏi mẹ tôi và cha tôi rồi bán tôi đi làm nô lệ, bán chị tôi vào chỗ còn tệ hơn nữa. Tôi đã cho ông ta là người tốt. Tôi đã nghĩ ông ta là người có học, người lịch sự. Tôi mới thật ngu ngốc làm sao! Tôi nghĩ tôi sẽ không bao giờ quay trở về Yoroido được nữa, hay nếu có về được, chắc cũng chỉ để nói với ông Tanaka rằng tôi rất ghét ông ta.
Cuối cùng khi tôi đứng lên lấy tà áo ướt lau mắt thì trời đã hết mưa, chỉ còn sương mù. Đá lát đường óng ánh vàng dưới ánh sáng của đèn lồng. Tôi đi lui qua khu vực Taminaga-cho, ở Gion, đến nhà hát Minamiza, nhà hát lợp ngói thật khổng lồ, khiến cho tôi tưởng đấy là tòa lâu đài vào cái ho6m ông Bekku đưa tôi và chị Satsu từ ga xe lửa đến. Chị giúp việc ở phòng trà Mizuki đã dăn tôi đi theo mé bờ sông, qua nhà hát Minamiza, nhưng con đường đến nhà hát thì hết. Cho nên phải đi theo con đường phía sau Minamiza. Sau khi đi qua một vài khu phố, tôi đến một nơi không có đèn đường, và gần như vắng người. Lúc ấy tôi không biết, nhưng đường xá vắng vẻ như thế là vì tình trạng đại suy thoái đang diễn ra, vào lúc khác chắc khu Miyagawa-cho này có thể sầm uất hơn cả Gion nữa. Tối hôm ấy tôi thấy vùng này rất buồn.
Mặt tiền các nhà đều bằng gỗ giống như ở Gion, nhưng khu vực này không có cây, không có sông như sông Shirakawa, không có những cửa ngõ đẹp đẽ. Ánh sáng duy nhất trong các nhà chiếu ra tù những bóng đèn tròn nơi các cửa mở rộng, ở đấy có các bà già ngồi trên ghế đẩu, thường có hai ba phụ nữ ở bên cạnh họ, tôi nghĩ các phụ nữ này là geisha ở ngoài đường. Họ mặc kimono và mang nữ trang trên tóc giống geisha, nhưng thắt lưng của họ buộc đàng trước chứ không phải ở phía sau. Tôi chưa bao giờ thấy thế và không hiểu việc này, nhưng đấy là dấu hiệu cho biết họ là gái điếm. Đàn bà mà phải mang khăn quàng lưng vào rồi tháo ra suốt đêm thì chẳng cần phải bận tâm buộc ra phía sau làm gì cho phí công.
Với sự giúp đỡ của các phụ nữ này, tôi tìm ra được nhà Tatsuyo nằm trong một hẻm cụt cùng với ba nhà khác nữa. Tất cả đều có bảng hiệu treo trước cửa. Tôi không thể nào tả hết cảm xúc của tôi khi thấy tấm bảng mang chữ Tatsuyo, nhưng tôi cũng xin nói là người tôi dường như bị căng thẳng quá sức, đến nỗi tôi như muốn nổ tung ra. Trước cửa vào nhà Tatsuyo có một bà già ngồi trên ghế đẩu, đang nói chuyện với người phụ nữ còn trẻ cũng ngồi trên ghế đẩu phía bên kia con hẻm, nhưng đúng ra là chỉ có bà già nói mà thôi. Chị ta ngồi tựa lưng vào khung cửa, chiếc áo dài màu xám thụng xuống hở hang một phần, còn chân thì đi đôi hài, đây là lọai hài bện bằng rơm một cách thô tháp, kiểu hài người ta thường thấy ở Yoroido chứ không phải loại hài sơn mài đẹp đẽ mà Hatsumono thường mang với áo kimono. Điều đáng nói hơn nữa là bà già để chân trần chứ không phải mang hài lụa bít tất chân láng lẫy. Thế mà bà ta vẫn chìa hai bàn chân có móng chân lởm chởm ra trước như thể bà tự hào về các móng chân của mình, muốn cho người ta nhìn và chiêm ngưỡng.
– Xin nói cho chị biết – bà ta nói – chỉ ba tuần nữa thôi, tôi không trở về đâu. Cô chủ hy vọng tôi về, nhưng tôi sẽ không về. Chị biết không, con dâu tôi sẽ chăm sóc tôi chu đáo. Nó không linh lợi nhưng nó làm việc cần mẫn. Chị đã gặp nó chưa?
– Nếu có gặp chắc tôi cũng không nhớ – chị đàn bà ngồi bên kia trả lời – cô con gái đang muốn nói chuyện với bà kia kìa. Bà không thấy à?
Nghe thế, bà già quay qua nhìn tôi. Bà ta không nói gì nhưng bà hất đầu ra dấu cho tôi muốn nói gì thì nói đi.
– Thưa bà – tôi nói – xin bà cho biết ở đây có cô gái nào tên là Satsu không ạ?
– Không có ai tên là Satsu hết – bà ta đáp.
Tôi quá hồi hộp không biết nói gì thêm nữa, nhưng bỗng nhiên tôi thấy bà già có vẻ lo sợ vì khi ấy có một người đàn ông đi qua, bước về phía cửa ra vào. Bà ta nhổm người dậy, hai tay chống lên đầu gối, cúi chào nhiều lần và miệng nói:
– Hân hạnh đón tiếp ngài!
Khi ông ta vào nhà rồi, bà ta ngồi xuống ghế lại và chìa hai bàn chân ra đàng trước như cũ.
– Tại sao cô còn ở đây? – bà già hỏi tôi – Tôi đã nói không có ai là Satsu ở đây mà.
– Có đấy bà ơi – chị đàn bà trẻ ở bên kia đường nói vọng sang – Cô Sukiyo của bà đấy. Tôi nhớ tên cũ của cô ta là Satsu.
– Có thể đúng thế – bà già đáp – nhưng tôi không cho Satsu gặp cô gái này. Tôi không muốn gặp rắc rối mà không có xơ múi gì.
Tôi không hiểu bà ta muốn nói gì, phải đợi đến khi chị đàn bà kia nói rằng tôi có vẻ không có đồng xu nào dính túi, tôi mới hiểu. Và quả chị ta nói đúng như thế. Một xu – có giá trị bằng một phần trăm đồng Yen – thời ấy vẫn còn thông dụng, nhưng một xu không đủ mua ngay cả một ly nước lã. Chưa bao giờ tôi có được một đồng trong tay từ khi tôi đến Kyoto. Khi đi làm những công việc lặt vặt, tôi chỉ nói với chủ các tiệm ghi số tiền thiếu nợ cho nhà kỹ nữ Nitta.
– Nếu bà cần tiền – tôi nói với bà ta – Satsu sẽ trả cho bà.
– Tại sao cô ta phải trả?
– Vì tôi là em của chị ấy.
Bà ta ra dấu bảo tôi đến gần rồi nắm lấy cánh tay tôi, quay quanh tôi và nói với chị ngồi bên kia:
– Chị nhìn con bé này này. Nó như thế này mà là em của con Sukiyo à? Con Sukiyo mà đẹp thế này thì nhà mình sẽ tấp nập khách nhất thành phố. Mày nói láo rồi mày ơi – Nói xong bà ta đẩy tôi lui ra.
Phải nói là tôi rất hốt hoảng, nhưng tôi nghĩ mình phải mạnh dạn mới được, tôi đã đến đây rồi, không thể bỏ cuộc chỉ vì lý do người đàn bà này không tin tôi. Cho nên tôi xấn tới, cúi chào bà ta lại và nói:
– Thưa bà, nếu tôi nói láo, tôi thật có lỗi với bà. Nhưng tôi không nói láo, Sukiyo là chị của tôi, xin bà làm ơn nói với chị ấy là có Chiyo đang ở đây, thế nào chị ấy cũng trả công cho bà.
Câu nói của tôi đã có hiệu nghiệm, vì bà già quay qua phía chị kia:
– Chị vào nói giúp cho tôi với, đêm nay chị rảnh. Vả lại cái cổ tôi khó chịu quá. Tôi ngồi đây canh chừng con bé này.
Chị đàn bà đứng dậy đi vào trong nhà. Tôi nghe tiếng chân chị bước lên cầu thang rồi một lát sau chị đi xuống. Chị ta nói:
– Sukiyo đang có khách. Khi nào xong việc, sẽ có người báo cho chị ta xuống.
Bà già bảo tôi đến ngồi trong bóng tối xa cửa để không ai trông thấy. Tôi không biết thời gian trôi qua bao lâu, tôi hết sức lo sợ có người trong nhà kỹ nữ phát hiện ra việc tôi vắng mặt. Tôi có lý do để ra ngoài, mặc dù lý do nào cũng đủ để làm cho Mẹ tức giận, nhưng tôi không được ở ngoài lâu. Cuối cùng người đàn ông đi ra, tay đang xỉa răng. Bà già đứng dậy, cúi chào, cám ơn ông ta đã đến. Và rồi tôi được nghe giọng nói vui vẻ nhất mà từ hồi đến Kyoto tôi mới được nghe lại:
– Bà gọi tôi à, thưa bà?
Chính là giọng nói của Satsu.
Tôi vùng đứng dậy, chạy đến chỗ chị đứng gần nơi ngưỡng cửa. Da chị xanh tái, ngả màu xám – nhưng có lẽ vì chị mặc cái kimono màu vàng và đỏ lòe lọet. Môi chị tô lọai son màu nhạt giống như lọai Mẹ xài, chị buộc thắt lưng ở phía trước giống như những người phụ nữ tôi thấy khi trên đường tới đây. Tôi cảm thấy hân hoan khi thấy chị, lòng quá sung sướng đến nỗi tôi nhào đến ôm chầm lấy chị. Và Satsu thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc, rồi đưa tay che lấy miệng.
– Bà chủ sẽ bất bình tôi đấy nhé – bà già nói.
– Đợi tôi một lát – Satsu nói với bà rồi đi vào trong nhà, lát sau chị trở ra, ấn vào tay bà mấy đồng xu, như muốn nói với bà rằng chị xin phép dẫn tôi vào cái phòng trống ở dưới.
– Nếu cô nghe tôi ho – bà già nói – tức là bà chủ đến. Bây giờ thì đi nhanh lên.
Tôi đi theo Satsu vào hành lang tối lờ mờ của nhà thổ Tatsuyo. Ánh đèn trong nhà màu đỏ quạch, có mùi như mùi mồ hôi. Bên dưới cầu thang có một cánh cửa lùa đã trật ra ngoài đường khe, Satsu kéo mạnh mới mở cửa ra được và phải khó khăn mới đóng lại được. Chúng tôi đang ở trong một căn phòng nhỏ trải thảm rơm, phòng chỉ có một cửa sổ có màn che. Ánh sáng từ bên ngoài lọt vào chỉ đủ cho tôi thấy thân hình của Satsu mà không thấy rõ mặt chị.
– Ôi Chiyo, – chị thốt lên rồi đưa tay cào lên mặt. Hay tôi nghĩ chị cào mặt cũng nên vì tôi không thấy rõ. Phải mất một lát tôi mới biết chị khóc, cho nên tôi không làm sao giữ cho nước mắt khỏi trào ra được.
– Em xin lỗi chị, Satsu – tôi nói – lỗi này do em.
Nhưng nói gì thì nói, chúng tôi cũng nhào tới ôm chầm lấy nhau trong bóng tối. Tôi thấy chị gầy đi. Chị vuốt tóc tôi y như xưa kia mẹ tôi vuốt khiến cho nước mắt càng tuôn ra như suối trên mặt tôi.
– Đừng ồn, Chiyo – chị khẽ nói – Mặt chị áp sát vào mặt tôi, khi nói, chị phả ra hơi thở có mùi hăng hăng – nếu bà chủ biết có em đến đây, chị sẽ bị ăn đòn. Tại sao lâu như thế này em mới đến?
– Ôi Satsu, em xin lỗi! Em biết chị có đến nhà kỹ nữ.
– Đã mấy tháng rồi.
– Con đàn bà chị nhắn là một quái vật. Nó để thật lâu mới nói cho em biết chị ở đâu.
– Chị phải chạy trốn thôi, Chiyo à, chị không thể ở đây lâu được nữa.
– Em sẽ đi với chị!
– Chị giấu tờ lịch tàu chạy dưới thảm rơm ở trên lầu, chị đã ăn cắp đủ tiền rồi, để trả cho bà Kishino. Bà ta bị đánh mỗi khi có ai chạy trốn. Bà ta sẽ để cho chị đi nếu chị trả tiền cho bà ta…
– Bà Kishino là ai thế?
– Là mụ già ngồi ở cửa trước. Bà ta sắp đi rồi. Chị không biết ai sẽ thay chân bà ta. Chị không thể đợi lâu hơn nữa! Chỗ này quá khủng khiếp! Chiyo, đừng để đến nỗi phải đến một chỗ như thế này! Thôi bây giờ em nên về đi, bà chủ sắp đến rồi.
– Khoan đã, khi nào chúng ta chạy trốn?
– Đợi chị trong góc ấy, đừng làm ồn. Chị phải đi lên lầu đã.
Tôi làm theo lời chị. Trong lúc chị ở trên lầu, tôi nghe bà già trước cửa chào một người đàn ông, rồi có tiếng chân bước lên cầu thang nghe thình thịch. Lát sau có tiếng chân vội vã đi xuống rồi cửa mở ra. Tôi sợ hãi, nhưng người mở cửa là Satsu, trông chị xanh xao. Chị nói:
– Thứ ba ta đi. Chúng ta sẽ trốn đi vào khuya thứ ba, còn năm ngày nữa. Có người đàn ông đến tìm chị..
– Đợi một chút Satsu, chúng ta gặp nhau ở đâu? Vào giờ nào?
– Chị không biết. Lúc một giờ sáng. Chị không biết ở đâu.
Tôi đề nghị gặp nhau ở gần nhà hát Minamiza, nhưng chị cho rằng ở đấy dễ bị người ta trông thấy. Chúng tôi đồng ý gặp nhau tại một chỗ bên kia sông, đối diện với nhà hát.
– Bây giờ chị phải đi – chị Satsu nói.
– Chị Satsu này, nhỡ em không đi được thì sao? Hay là nhỡ chúng ta không gặp được nhau thì sao?
– Ráng đến đấy, Chiyo, chị chỉ có một dịp may mà thôi! Chị sẽ đợi em cho đến lúc không đợi được nữa. Bây giờ em về đi, trước khi bà chủ về nhà. Nếu bà ta bắt gặp em ở đây, chị sẽ không bao giờ trốn đi được.
Tôi muốn nói với chị rất nhiều chuyện, nhưng chị đã kéo tôi ra hành lang và đóng cửa lại. Tôi muốn đứng lại nhìn chị đi lên lầu, nhưng bà già ngoài cửa nắm cánh tay tôi lôi tôi ra ngoài đường tối .
Tôi chạy một mạch từ Miyagawa về nhà,và tôi mừng khi thấy nhà cửa yên lặng như khi tôi ra đi. Tôi lẻn vào quỳ trong ánh sáng lờ mờ của hành lang trước, lấy tay áo lau mồ hôi ở trán, ở cổ, và cố lấy lại hơi thở bình thường. Tôi ngồi yên, lòng mừng rỡ vì không ai biết tôi mới đi đâu về. Nhưng bỗng tôi nhìn vào cửa phòng của gia nhân, thấy cửa hé mở có thể chuồi cánh tay qua lọt, tôi cảm thấy lạnh người. Không ai để cửa như thế bao giờ. Ngoại trừ vào những lúc trời nóng, người ta mới hé cửa ra như thế. Khi tôi nhìn vào trong, tôi nghe có tiếng xột xọat. Tôi hy vọng đấy là con chuột, vì nếu không phải chuột thì là Hatsumono với ông bạn trai của cô ta ở trong đó. Bỗng tôi ước gì tôi đừng đi đến Miyagawa, tôi ước gì nếu được đi ngược lại thời gian để tôi có thể cản lại được ước muốn đến đó của mình. Tôi đứng dậy và nhẹ bước đi trên hành lang đất, lòng bồi hồi lo sợ, cuống họng khô khốc như đất khô. Khi đến cửa phòng của tôi tớ, tôi nhìn vào qua khe hở. Tôi không thấy rõ ở bên trong. Vì thời tiết ẩm ướt nên chị Yoko đốt lò than sớm hơn, lò than để trên nền nhà, bây giờ chỉ còn đỏ một ít, và trong ánh sáng lờ mờ do lò than chiếu ra, tôi thấy có cái gì nho nhỏ, trắng bạc đang cọ quậy. Khi thấy thế suýtt nữa tôi đã thét lên vì tôi nghĩ đấy là con chuột, cái đầu nó nhúc nhích như nó đang gậm vào vật gì đó. Tôi còn kinh hoàng khi nghe có tiếng phát ra như tiếng nó đang cắn, tiếng kêu lắc cắc rì rầm. Hình như nó đang đứng trên vật gì đó mà cắn, tôi không thể nhận ra vật đó là cái gì. Chìa ra phía tôi, có hai bó gì mà tôi nghĩ chắc là hai bó vải cuộn tròn lại, tôi liền nghĩ con chuột đang cắn ở giữa hai cuộn vải, cắn đến đâu vải văng sang hai bên đến đấy. Chắc nó cắn vải của chị Yoko để trong phòng chứ gì. Tôi định đóng cửa lại vì sợ con chuột sẽ chạy ra phía tôi để ra hành lang thì bỗng tôi nghe có tiếng đàn bà rên. Rồi bỗng từ phía bên kia chỗ con chuột đang cắn, tôi thấy cái đầu của Hatsumono ngẩng lên, nhìn về phía tôi. Tôi vội thụt đầu lui khỏi cửa. Vật mà tôi nghĩ là hai cuốn vải, là hai chân của cô ta. Và vật tôi tưởng là con chuột không phải là chuột. Đấy là bàn tay của ông bồ cô ta thò ra ngoài tay áo.
– Cái gì thế? – Tôi nghe giọng của ông ta cất lên – Có người ở ngoài ấy à?
– Không có gì hết – Hatsumono đáp nhỏ.
– Có ai ngoài ấy.
– Không, không có ai hết. Em tưởng có nghe cái gì đấy, nhưng không có ai hết.
Tôi nghĩ chắc chắn Hatsumono đã thấy tôi. Nhưng đương nhiên cô ta không muốn để cho ông bồ cô ta biết. Tôi vội về chỗ quỳ xuống, cảm thấy hoảng sợ như vừa bị xe điện tông vào người. Tôi nghe tiếng nói, tiếng trong phòng tôi tớ, chốc chốc vẳng ra, rồi im lặng hẳn. Cuối cùng, khi Hatsumono và ông bồ cô bước ra hành lang, ông ta nhìn tôi và nói:
– Con này ở đây kia mà. Khi anh đến không có nó.
– Ồ đừng để ý đến nó. Đêm nay nó quá tệ, không được phép ra khỏi nhà mà nó vẫn ra. Em sẽ trị tội nó cho nó biết.
– Thế là có người rình chúng ta rồi. Tại sao em nói láo với anh?
– Anh Koichi, sao tối nay anh lại có vẻ lo sợ đến thế?
– Thấy nó mà em cứ tỉnh bơ như thế à? Chắc em biết nó ở đây nhìn ta cả buổi.
Ông bồ của Hatsumono bước ra hành lang trước, dừng lại nhìn tôi một lát rồi mới bước ra khỏi cửa. Tôi ngồi yên cúi mặt nhìn xuống nền nhà, nhưng tôi cảm thấy mặt nóng ran. Hatsumono bước qua tôi đến giúp ông ta mang giày vào. Tôi nghe cô ta nói với ông bằng một giọng van lơn cầu khẩn mà tôi chưa từng nghe bao giờ.
– Koichi, xin anh bình tĩnh. Em không biết đêm nay có gì làm cho anh lo sợ! Ngày mai đến lại…
– Anh không muốn gặp em ngày mai.
– Em không thích anh bắt em chờ lâu. Em sẽ đến gặp anh bất cứ nơi nào anh hẹn, ngay cả dưới gầm cầu.
– Anh không có nơi nào để hẹn gặp em được. Vợ anh canh chừng anh rất gắt.
– Vậy thì đến đây lại. Chúng ta có phòng của tôi tớ đấy.
– Phải, nếu cô muốn chúng ta bị dòm vào và bị rình rập! Thôi, Hatsumono, để tôi đi. Tôi muốn về nhà.
– Xin đừng giận em, anh Koichi. Em không biết tại sao anh quyết định như thế. Anh trở lại nhé, hứa đi, ngày khác cũng được.
– Ngày khác tôi cũng không đến đâu. Tôi nói rồi.
Tôi nghe tiếng cửa mở ra rồi đóng lại, một lát sau, Hatsumono vào lại hành lang trước, đứng nhìn vu vơ xuống nền nhà. Cuối cùng cô ta quay nhìn tôi, lấy tay lau cặp mắt ươn ướt rồi nói với tôi:
– Này Chiyo, mày đã đi thăm con chị xấu xí của mày phải không?
– Dạ, thưa cô Hatsumono – tôi đáp.
– Rồi mày về đây để rình tao! – Hatsumono nói thật lớn khiến cho một chị giúp việc lớn tuổi tỉnh dậy, chị ta chống tay nhổm dậy nhìn chúng tôi. Hatsumono nạt chị – Ngủ lại đi, con mẹ già ngốc – Chị giúp việc lắc đầu nằm xuống lại.
– Thưa cô Hatsumono, tôi sẽ làm bất cứ điều gì cô muốn, tôi không muốn phải bị rắc rối với Mẹ.
– Dĩ nhiên mày phải làm bất cứ điều gì tao muốn, chuyện này khỏi bàn! Mà mày đang gặp chuyện rắc rối rồi.
– Tôi phải đem đàn đến chỗ cô kia mà.
– Mày đi hơn một giờ. Mày đi tìm con chị mày, và bọn mày vạch kế hoạch để chạy trốn. Bộ mày tưởng tao ngốc à? Rồi mày về đây rình tao.
– Xin cô tha lỗi – tôi nói – Tôi tưởng không phải cô ở trong phòng. Tôi tưởng đấy là…
Tôi muốn nói tôi tưởng đấy là con chuột, nhưng tôi nghĩ chắc cô ta không tin tôi.
Cô ta nhìn tôi một hồi rồi đi lên lầu, về phòng. Khi xuống lại, cô ta cầm cái gì trong tay.
– Mày muốn chạy trốn với chị mày phải không? – cô ta nói – làm thế là hay đấy. Mày ra khỏi nhà này sớm chừng nào tốt cho tao chừng đó. Có người cho tao là không có lòng từ tâm, nhưng sự thật không đúng như thế. Nghĩ đến chuyện mày và con bò cái mập ú ấy chạy đi tìm đất sống, bơ vơ ngoài đời, tao cảm thấy thương xót. Nhưng mày đi ra khỏi đây càng sớm càng tốt cho tao. Hãy đứng lên.
Tôi đứng lên nhưng lòng tôi sợ cô ta làm gì hại đến tôi. Cô ta nắm vật gì đấy trong tay và cô ta muốn nhét nó vào dưới khăn quàng lưng của tôi, nhưng khi cô ta bước tới, tôi liền thụt lui.
– Này xem – cô ta nói và mở tay ra – số tiền nhiều chưa bao giờ tôi thấy, nhưng tôi không biết bao nhiêu – Tao lấy tiền ở phòng tao để cho mày. Mày phải cám ơn tao. Cứ lấy đi, mày cứ đi khỏi Kyoto, đừng bao giờ để tao gặp lại là mày trả ơn tao rồi.
Bà Dì đã dặn tôi đừng tin Hatsumono, ngay cả khi cô ta đề nghị giúp tôi. Nhưng khi tôi nhớ ra cảnh cô ta ghét tôi như thế nào, tôi bèn nghĩ cô ta làm thế này không phải để giúp tôi mà cô ta muốn tống khứ tôi đi khỏi đây. Khi cô ta nhét nắm bạc vào dưới thắt lưng tôi, tôi đứng yên cho cô ta nhét. Tôi cảm thấy mấy móng tay láng bóng của cô ta xước trên da thịt tôi. Cô ta quay người tôi lai để buộc dây thắt lưng cho thật chặt để tiền khỏi rớt ra, rồi cô ta bắt đầu làm công việc kỳ lạ nhất. Cô ta quay tôi lại để nhìn vào mặt tôi rồi đưa tay đánh vào một bên đầu tôi, nhìn tôi với ánh mắt nghiêm khắc. Tôi chợt nghĩ hành động của Hatsumono là âm mưu gì đây chứ không tốt lành gì, như con rắn độc rình mồi để cắn. Rồi trong lúc tôi đang bàng hòang, cô ta nghiến răng, chụp lấy đầu tóc của tôi, giận dữ day đầu tôi, kéo tôi quỳ xuống đất và miệng la lên. Tôi không biết có chuyện gì xảy ra, nhưng liền sau đó, cô ta kéo tôi đứng lên, lôi tôi lên cầu thang, vừa đi vừa day đầu tôi. Cô ta giận dữ hét vào mặt tôi, còn tôi, tôi cũng la hét thật lớn đến nỗi nếu người đi ngoài đường nghe được cũng không có gì ngạc nhiên.
Khi chúng tôi lên đến đầu cầu thang, Hatsumono đấm cửa phòng Mẹ và gọi lớn. Mẹ liền mở cửa ra ngay, vừa buộc dây thắt lưng vừa tức tối nhìn chúng tôi:
– Hai đứa bay làm cái gì thế? – Bà ta nói.
– Đồ nữ trang của tôi! Hatsumono đáp – Chính cái con ngốc này! – Nói xong cô ta đánh tôi. Tôi chỉ còn việc cuộn người lại thành một đống trên nền nhà khóc lóc van xin cô ta dừng tay cho đến khi Mẹ đến can cô ta ra. Ngay lúc ấy bà Dì đến với Bà trên đầu cầu thang.
– Ôi Mẹ, – Hatsumono nói – tối nay khi trên đường về nhà, con thấy ai như con Chiyo đứng nói chuyện với một người đàn ông ở cuối đường hẻm. Con cứ nghĩ không có chuyện gì xảy ra, vì con biết kẻ ấy không thể là nó được. Nó không được phép ra khỏi nhà kỹ nữ. Nhưng khi con lên phòng của con, con thấy cái hộp đồ đựng nữ trang của con bị xáo tung. Con liền chạy xuống vừa lúc thấy Chiyo đưa cái gì cho gã đàn ông kia. Nó định chạy trốn, nhưng con bắt nó lại được.
Mẹ im lặng một hồi lâu nhìn tôi.
– Gã đàn ông bỏ đi – Hatsumono nói tiếp – Nhưng con chắc Chiyo đã bán đồ nữ trang của con để dồn tiền. Nó có ý định bỏ trốn khỏi nơi đây, Mẹ à, con nghĩ thế, mặc dù chúng ta đối xử với nó rất tốt.
– Được rồi , Hatsumono – Mẹ nói – thế là đủ rồi. Cô và bà Dì vào phòng cô tìm xem mất thứ gì.
Khi chỉ còn một mình tôi với Mẹ, tôi nói nhỏ:
– Thưa Mẹ, không phải thế đâu…Hatsumono ở trong phòng gia nhân với bồ của cô ấy. Cô ta tức tối vì con biết chuyện này nên cô ta bịa đặt ra. Con không lấy gì của cô ây hết!
Mẹ không nói, tôi cứ ngỡ bà không nghe tôi nói. Một lát sau Hatsumono đi ra, nói rằng cô ta mất một cái ghim hoa dùng cài trước dải thắt lưng.
– Mất cái ghim hoa bằng bích ngọc, Mẹ à – cô ta nói rồi khóc lóc như một diễn viên – Nó đã bán cái ghim ngọc ấy cho gã đàn ông khủng khiếp kia! Đúng là cái ghim hoa của con! Ai ngờ nó nỡ ăn trộm cái ấy của con!
– Soát nó xem! – Mẹ nói.
Lúc tôi còn nhỏ chừng sáu tuổi, có lần tôi xem con nhện giăng lưới trong góc nhà. Trước khi con nhện giăng xong lưới, một con muỗi bay qua lưới và mắc vào bẫy.Con nhện thoạt tiên không để ý mà vẫn tiếp tục công việc giăng lưới của mình. Khi làm xong nó mới bò đến trên những ngón chân nhọn của mình và cắn con muỗi cho đến chết. Khi tôi ngồi trên nền nhà lát ván nhìn Hatsumono đưa mấy ngón tay thanh tú vào người tôi, tôi nghĩ tôi đã mắc vào cái mạng nhện do cô ta giăng ra. Tôi không biết phải giải thích làm sao về số tiền nằm trong giải thắt lưng của tôi. Khi cô ta lấy tiền ra, Mẹ cầm lấy và đếm.
– Mày quả là đồ điên mớii đem cái ghim hoa ngọc bích bán với số tiền ít ỏi như thế này- Mẹ nói với tôi – Thật quá ít! Mày phải trả lại với giá nhiều hơn thế này.
Bà nhét số tiền vào trong áo ngủ rồi nói với Hatsumono:
– Đêm nay cô đưa bạn trai vào nhà kỹ nữ.
Nghe thế Hatsumono giật mình kinh ngạc, nhưng cô ta vẫn ngoan cố hỏi lại:
– Cái gì đã làm cho Mẹ có cái ý nghĩ ấy, thưa Mẹ?
Im lặng một lúc rồi Mẹ nói với bà Dì:
– Nắm hai tay nó lại.
Bà Dì nắm hai tay Hatsumono và đứng sau lưng cô ta để giữ chặt cô ta lại, trong lúc Mẹ mở rộng tà áo của Hatsumono ngang đùi chân. Tôi nghĩ thế nào Hatsumono cũng kháng cự lại nhưng không, cô ta chỉ đứng yên. Cô ta nhìn tôi với ánh mắt lạnh lùng trong khi Mẹ vén dung lụa Koshimaki (lụa quấn quanh mông) lên đẩy banh hai đầu gối cô ta rộng ra. Rồi Mẹ đưa tay thọc vào giữa hai chân cô ta, và khi bà lôi bàn tay ra, mấy ngón tay bà ướt, bà thoa ngón tay cái và các ngón kia vào với nhau một lúc, rồi bà ngửi. Sau đó bà giang tay đánh vào mặt Hatsumono, một đường ươn ướt dính trên mặt cô ta.                        

 

Đời kỹ nữChương 8

 

Hatsumono không phải là người duy nhất tức tôi thôi, ngày hôm sau Mẹ ra lệnh cắt khẩu phần cá khô của tất cả gia nhân trong nhà vì tội để cho bồ của Hatsumono vào nhà. Tôi nghĩ nếu tôi không ăn cắp phần ăn của gia nhân, thì chắc họ không tức tôi, riêng phần Bí Ngô, khi cô ta nghe Mẹ ra lệnh như thế, cô ta khóc ròng. Thú thật mà nói, tôi không khó chịu khi thấy mọi người đều tức giận tôi, cũng như không đau khổ khi phải mang thêm nợ cái ghim hoa mà tôi không bao giờ thấy. Cuộc sống khó khăn chỉ làm cho quyết tâm chạy trốn của tôi mạnh thêm.
Tôi nghĩ Mẹ không tin tôi lấy cái ghim cài ở dây lưng nhưng bà sẽ mua cái ghim khác tính vào tiền nợ của tôi để làm vừa lòng Hatsumono. Thế nhưng bà biết tôi ra ngoài là có phép, vì chị Yoko đã xác nhận điều này. Khi tôi nghe Mẹ ra lệnh khóa cửa trước để tôi khỏi ra ngoài, tôi cảm thấy cuộc đời tôi thế là hỏng bét. Làm sao tôi thoát ra khỏi nhà cho được? Chìa khóa do bà Dì giữ và ba ta đeo nơi cổ khi đi ngủ. Còn việc ngồi bên cửa ban đêm giao cho Bí Ngô, khi nào Hatsumono về nhà thì Bí Ngô đánh thức bà Dì dậy để mở cửa.
Hằng đêm khi đi nằm ngủ tôi suy nghĩ kế hoạch nhưng mãi cho đến thứ hai, tức là còn một đêm nữa đến ngày hẹn với Satsu để cùng nhau chạy trốn, tôi vẫn chưa nghĩ ra cách nào để thoát ra khỏi nhà. Tôi quá nản đến nỗi bỏ bê công việc trong nhà, các gia nhân la mắng tôi chùi sàn nhà không sạch, quét hành lang không xong. Cả buổi chiều thứ hai, tôi giả vờ ngồi nhổ cỏ ở ngoài sân, thực ra tôi chỉ ngồi để suy nghĩ tìm cách trốn thóat. Rồi một gia nhân sai tôi chùi sàn gỗ trong phòng gia nhân, nơi Yoko đang ngồi bên chiếc bàn điện thọai, và nhờ thế mà có chuyện đặc sắc xảy ra. Tôi vắt cái giẻ nhúng nước lên sàn nhà, nhưng thay vì nước chảy ra cửa như tôi tưởng, nước lại chảy ngược vào phòng.
– Chị Yoko nhìn kìa – tôi nói – nước chảy ngược lên đồi.
Dĩ nhiên nước không chảy lên đồi. Tôi tưởng nó như thế thôi. Tôi quá kinh ngạc khi nghĩ thế, cho nên tôi vắt thêm nước và nhìn nó chảy vào trong góc. Tôi không biết tại sao nó xảy ra như thế, nhưng tôi chắc nó sẽ chảy ra thang lầu, lên tầng hai, rồi theo cái thang bắt lên cửa trập, lên mái nhà bên cạnh cái thùng hứng nước mưa.
Mái nhà! Tôi bàng hoàng khi nghĩ đến mái nhà, tôi quên hết mọi việc chung quanh; và khi điện thọai reo, tôi hoảng hốt la lên. Tôi không biết khi lên mái nhà tôi sẽ làm gì, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ tìm được cách leo xuống đường và đến chỗ hẹn với chị Satsu.
Tối hôm sau, khi đi ngủ, tôi giả vờ ngáp lấy ngáp để và thả mình lên nệm như bao gạo. Mọi người chắc nghĩ tôi sẽ ngủ khì trong nháy mắt, nhưng thật ra tôi phải cố hết sức để khỏi ngủ. Tôi nằm im hình dung khuôn mặt của bố tôi khi thấy tôi hiện ra nơi ngưỡng cửa, và cả mẹ tôi nữa. Nhưng hễ nghĩ đến mẹ là nước mắt tôi chảy ra.
Cuối cùng các gia nhân nằm xuống nệm bên cạnh tôi còn Bí Ngô ngồi vào vị trí đợi Hatsumono. Tôi nghe tiếng Bà Ngoại tụng kinh, và cánh cửa hé mở tôi tình cờ thấy bà đang thay áo ngủ. Tôi kinh hoàng khi thấy thân hình bà vì chỗ nào cũng nhão nhọet, xệ xuống. Tôi không biết bà đang nghĩ gì, và phân vân không biết bà ta có bước vào đời như tôi không. Nếu có thì chẳng có gì khác biệt giữa bà và một bé gái cứng đầu như tôi. Con người khi gặp nhiều gian khổ thường thay đổi tính tình. Tôi nhớ rất rõ có một lần ở Yoroido, một đứa con trai xô tôi nhào vào một bụi gai ở bên hồ. Trong lúc vạch lối để chui ra, tôi đã nổi điên cắn vào thân cây. Nếu một vài phút đau khổ đã làm tôi tức tối đến thế thì thử hỏi sống nhiều năm sẽ ra sao?
Nếu tôi không quyết định chạy trốn, tôi sẽ sống trong cảnh kinh hòang khổ đau đang chờ tôi ở Gion. Chắc chắn sự khổ đau sẽ đẩy số phận tôi giống như số phận của Bà Ngoại. Nhưng tôi hy vọng khi nghĩ đến ngày mai tôi có thể quên hết những kỷ niệm ở Gion. Tôi đã biết cách leo lên mái nhà, cũng như tôi sẽ biết cách leo xuống đường. Bây giờ tôi chỉ cầu may trong bóng tối. Ngay cả khi tôi tụt xuống được mà không bị thương tích gì, thì việc đó chỉ là việc bắt đầu đi vào chốn gian nan. Tuy nhiên cuộc sống ở Gion phải vật lộn bao nhiêu thì cuộc sống sau khi chạy trốn cũng là cảnh vật lộn gay gắt bấy nhiêu. Thế giới này quá độc ác, làm sao tôi vượt qua được? Tôi nằm trên nệm lòng lo buồn một hồi, tự hỏi không biết tôi có đủ nghị lực để làm việc này không, nhưng Satsu đang đợi tôi, chị ấy biết cách hành động.
Một lát sau Bà Ngọai ngủ yên trong phòng. Các gia nhân đã ngáy khò. Tôi giả vờ trở mình sang một bên để xem Bí Ngô đang làm gì, cô ta quỳ trên nền nhà không xa chỗ tôi nằm là mấy. Tôi không thấy rõ mặt cô ta nhưng tôi có cảm giác là cô ta đang ngủ gục. Tôi đã có ý định đợi cho cô ta ngủ thật say, nhưng tôi không muốn mất thêm thì giờ nữa, vả lại Hatsumono có thể trở về bất cứ khi nào. Tôi nhẹ nhàng ngồi dậy, bụng nghĩ nếu ai thấy tôi ngồi dậy, tôi sẽ đến nhà cầu rồi trở về ngay. Nhưng không ai để ý đến tôi cả. Cái áo dài tôi sẽ mặc vào sáng mai được xếp để trên nền nhà gần đấy. Tôi lấy cái áo rồi đi đến chân cầu thang.
Đến phòng của Mẹ, tôi đứng lại lắng nghe một lát. Bà thường không ngáy khi ngủ cho nên tôi không biết chắc bà đã ngủ chưa, ngoại trừ bà nói chuyện điện thọai hay gây ra tiếng động gì đấy. Thực ra phòng bà không hòan toàn im lặng vì con chó Taku của bà thở khò khè khi ngủ. Nghe càng lâu tôi càng thấy tiếng thở khò khè của nó như giống như tiếng ai đang gọi tên tôi “Chiyo! Chiyo!” Khi tôi chưa biết chắc Mẹ đã ngủ, tôi không muốn lẻn ra khỏi nhà, cho nên tôi định đẩy cửa nhìn vào thử. Nếu bà thức, tôi sẽ nói tôi nghe có người gọi tôi. Giống Bà Ngoại, Mẹ ngủ để đèn sáng trên bàn cho nên khi tôi mở cửa cái rắc và nhìn vào, tôi thấy hai gót chân nứt nẻ của bà thò ra ngoài chăn. Con Taku nằm giữa hai chân bà, cái ngực nhô lên xẹp xuống, phát ra tiếng khò khè như tiếng gọi tên tôi.
Tôi đóng cửa lại rồi đứng thay áo ở trong hành lang có cầu thang. Vật duy nhất mà tôi quên là đôi giày – tôi quyết phải mang đôi giày theo khi chạy trốn, điều này cho anh biết tôi đã thay đổi ra sao từ mùa hè. Nếu Bí Ngô không quỳ ở hành lang trước, chắc tôi đã đi lấy đôi giày gỗ dùng để đi trên hành lang đất. Thay vào đó tôi đã lấy đôi dép dùng đi vào nhà vệ sinh trên lầu. Đối dép có chất lượng rất tồi . chỉ có một quai da nằm trên để giữ chân cho chặt. Điều bất tiện là đôi dép quá to, nhưng tôi chẳng còn đôi nào khác mà chọn.
Sau khi đóng sập cửa lại một cách lặng lẽ, tôi nhét cái áo ngủ dưới thùng hứng nước mưa, rồi cố đứng dạng chân trên con lươn mái nhà, tôi cảm thấy sợ, tiếng người nói ở dưới đường có vẻ như từ một nơi rất xa. Nhưng tôi không có thời gian để lo sợ vì bất cứ lúc nào cũng có thể có một chị giúp việc hay thậm chí bà Dì hay Mẹ, nhảy qua cửa trập để tìm tôi. Tôi nắm đôi dép trên tay để chúng khỏi rớt rồi đi theo trên con lươn, việc đi trên mái nhà thật khó khăn chứ không phải như tôi tưởng. Ngói trên con lươn rất dày, những lớp ngói gối lên nhau nên đi rất tiện nhưng tôi phải đi rất chậm vì ngói va vào nhau kêu lắc cắc. Tiếng kêu vang xa tận các mái nhà bên cạnh.
Tôi phải đi mất nhiều phút mới tới được phía bên kia của mái nhà kỹ nữ của chúng tôi. Mái nhà bên cạnh thấp hơn mái nhà của chúng tôi một bậc. Tôi leo xuống mái nhà ấy, dừng lại một lát để tìm lối xuống đường; mặc dù trăng sáng, tôi chỉ thấy bóng tối vây quanh. Mái nhà quá cao và quá xuôi, tôi không thể tính đến chuyện tuột xuống. Tôi không biết mái nhà bên cạnh có dễ tuột xuống hay không, tôi bắt đầu hoảng sợ. Nhưng tôi cứ tiếp tục đi từ mái nhà này sang mái nhà khác cho đến lúc tôi trông thấy một cái sân lộ thiên. Nếu tôi đi đến được ống xối, tôi có thể tuột theo ống xối để đến một chỗ mà tôi nghĩ là nhà tắm. Từ trên mái nhà tắm, tôi có thể trèo xuống sân một cách dễ dàng.
Tôi không muốn rơi xuống giữa sân nhà người ta một chút nào hết. Tôi biết chắc đây là sân của một nhà kỹ nữ, tất cả nhà trong khu này đều là nhà dạy kỹ nữ. Có khả năng trước cửa nhà này có người ngồi đợi nàng geisha đi về, và họ sẽ thộp cổ tôi vì tôi là kẻ trốn chạy. Và nếu cổng nhà họ cũng khóa như cổng nhà tôi thì sao? Nếu có lối thoát nào khác thì không đời nào tôi chọn đường xuống sân nhà này.
Tôi ngồi trên con lươn một hồi lâu để nghe động tịnh gì dưới sân hay không. Tôi chỉ nghe tiếng cười nói ngoài đường mà thôi. Tôi không biết khi tuột xuống sân, tôi sẽ gặp cái gì trong đấy, nhưng tôi nghĩ tôi phải đi nhanh cho rồi kẻo người trong nhà tôi phát hiện ra việc tôi bỏ trốn. Nếu tôi lo sợ cho hành động của tôi có hại đến tương lai của tôi, thì chắc tôi còn đủ thì giờ men theo con lươn đi trở lui, về lại nhà kỹ nữ của tôi vẫn còn kịp. Nhưng tôi không có ý định quay lui. Khi ấy tôi là đứa bé quyết chọn con đường phiêu lưu mạo hiểm.
Tôi bước chân xuống mái nhà, người đung đưa trên mái nghiêng, hai tay níu vào con lươn, tôi hỏang sợ nhận ra rằng mái nhà qúa nghiêng chứ không như tôi tưởng. Tôi cố bước lui thật nhanh, nhưng không được. Hai tay tôi bận nắm hai chiếc dép nên không bấu chặt vào con lươn được, chỉ dùng khuỷu tay để kẹp nó thôi. Tôi thấy tôi đang lâm nguy vì tôi không thể leo trở lại lên con lươn được nữa. Đúng lúc ấy tôi thấy mình trượt dài trên mái nhà, không làm sao trì lại được. Mới đầu tôi còn trượt chầm chậm, và tôi hy vọng xuống tận dưới mái nhà tôi sẽ gặp chái nhà uốn cong lên chặn tôi lại . Nhưng khi trượt chân, một tấm ngói bị chân tôi hất ra, chạy trên mái nhà lanh canh rồi rớt xuống sân vỡ toang phát ra tiếng kêu to. Rồi một chiếc dép văng ra khỏi tay tôi, lăn qua mặt tôi. Tôi nghe chiếc dép rơi xuống sân đánh bạch một tiếng, và rồi tôi nghe nhiều tiếng đáng sợ hơn, tiếng chân người chạy trên hành lang ra sân!
Nhiều lần tôi đã nhìn những con ruồi đậu trên tường hay trên trần nhà như thể chúng đậu trên mặt đất bằng phẳng. Tôi không biết chúng đậu được là vì chân chúng có hấp khẩu hay là vì chúng nhẹ, nhưng khi tôi nghe tiếng chân người ở dưới, là tôi nghĩ đến việc bám chặt vào mái ngói như con ruồi và tôi phải làm ngay tức khắc. Nếu không, chỉ trong vài giây nữa thôi là tôi sẽ nằm một đống dưới sân liền. Tôi cố bấu mấy ngón chân, ấn mạnh hai cùi tay và đầu gối vào mái ngói. Trong lúc cố gắn làm thế, tôi đã phạm một sai lầm đáng tiếc là thả nốt chiếc dép kia cho rơi xuống để ấn mạnh hai lòng bàn tay trên mái nhà. Lòng bàn tay tôi chắc ướt mèm mồ hôi, cho nên khi tôi ấn chúng xuống, tôi lại càng trượt nhanh hơn nữa. Tôi thấy mình trượt vo vo, rồi thình lình mái nhà không còn dưới bụng tôi nữa.
Bỗng tôi không nghe gì nữa mà cảm thấy tất cả đều im lặng đến rợn người. Khi tôi rơi xuống, tôi còn kịp mường tượng trong óc cảnh một phụ nữ bước ra ngòai sân, nhìn xuống viên ngói vỡ nát rồi nhìn lên mái nhà, đúng lúc thấy tôi từ trên trời rơi xuống ngay đầu bà, nhưng dĩ nhiên những điều tôi nghĩ đã không xảy ra. Khi rơi xuống, tôi quay tròn rồi rơi nghiêng xuống đất. Tôi có cảm giác là tôi đưa tay lên che đầu, nhưng tôi rơi xuống quá mạnh đến nỗi choáng váng đầu óc. Tôi không biết là người đàn bà đang đứng ở đâu, thậm chí không biết bà ta có đứng ở trong sân khi tôi rơi xuống không. Nhưng chắc bà ta đã thấy tôi từ trên mái nhà lăn xuống, vì khi tôi nằm choáng váng trên mặt đất, tôi nghe bà ta nói:
– Trời ơi! Trời mưa con gái!
Ôi, tôi muốn vùng dậy chạy trốn nhưng không được. Một bên người tôi đau nhừ. Dần dần tôi biết có hai người đàn bà đang quỳ bên tôi. Một người cứ nói lui nói tới cái gì đấy, nhưng tôi không hiểu được. Họ nói chuyện với nhau rồi bê tôi khỏi mặt sân rêu và để tôi ngồi trên hành lang gỗ. Tôi chỉ nhớ một phần câu chuyện của họ:
– Thưa bà, tôi đã nói rồi, nó rơi từ trên mái nhà xuống.
– Tại sao nó mang dép dùng trong nhà vệ sinh theo? Có phải mày lên đó để đi vệ sinh không bé con? Mày có nghe tao nói không? Thật là nguy hiểm. May mà mày không tan xác khi rơi xuống như thế này.
– Chắc nó có nghe, nói đi bé con!
Nhưng tôi không nói được gì hết, tôi chỉ nghĩ đến việc bây giờ chắc Satsu đang đợi tôi ở chỗ đợi đối diện với nhà hát Minamiza, và chắc không bao giờ tôi có mặt ở đấy được.
Người ta bảo người giúp việc đi gõ cửa từng nhà để hỏi nhà nào nuôi tôi, tôi khi tôi nằm một đống, bàng hoàng ngơ ngác. Tôi khóc ấm ức trong lòng, ôm một cánh tay, vì nó đau kinh khủng, rồi bỗng thình lình tôi bị lôi đứng lên và bị tát vào mặt:
– Đồ điên! Con điên! – tiếng nói đay nghiến và tôi thấy bà Dì đứng trước mặt tôi, vẻ tức giận, rồi bà kéo tôi ra khỏi nhà kỹ nữ, đi về nhà chúng tôi. Khi đến nhà, bà đẩy tôi đứng tựa vào cửa gỗ rồi tát tôi nữa.
– Mày biết mày đã làm gì không? – bà ta hỏi nhưng tôi không đáp – Mày nghĩ gì thế? Đấy mày tự hủy hoại mày đời mày vì những chuyện ngu ngốc! Đồ điên! Con điên!
Tôi không ngờ bà Dì lại giận dữ đến như thế. Bà ta lôi tôi vào sân, đẩy tôi nằm sấp trên hành lang ván. Tôi khóc ròng vì tôi biết việc gì sắp xảy ra rồi. Nhưng lân này thay vì đánh tôi lấy lệ như lần trước, bà Dì xối nước lên áo tôi để cây roi đánh vào đau hơn, rồi bà ra sức đánh tôi thật mạnh đến nỗi tôi muốn hụt hơi. Khi đánh xong, bà ném roi xuống đất và lật ngửa tôi ra, bà nói lớn:
– Bây giờ thì mày không bao giờ thành geisha được nữa. Tao đã dặn mày đừng làm như thế này rồi! Và bây giờ thì tao hay người nào cũng không thể làm gì giúp mày được.
Tôi không nghe những lời bà nói thêm nữa, vì những tiếng la thảm thiết của Bí Ngô đã vang lên ở đàng kia hành lang. Bà Ngoại đang đánh Bí Ngô vì tội không canh chừng tôi.
Thì ra tôi bị gãy cánh tay khi rơi xuống trong sân nhà ấy. Sáng hôm sau, bác sĩ đến đưa tôi đi bệnh viện gần đấy. Khi tôi được đưa về nhà với cánh tay băng bột thì trời đã xế chiều. Tôi đang đau nhức, nhưng Mẹ gọi tôi đến phòng bà ngay. Bà nhìn tôi một hồi lâu, một tay vỗ vỗ con chó Taku, một tay cầm ống vố trên miệng. Cuối cùng bà ta hỏi:
– Mày có biết tao đã trả cho mày bao nhiêu không?
– Không, thưa bà – tôi đáp – Nhưng chắc bà sẽ nói bà đã trả nhiều hơn giá trị của tôi.
Tôi biết trả lời như thế này là hỗn. Tôi nghĩ thế nào Mẹ cũng tát tôi vì tội nói hỗn, nhưng tôi đã lo quá dáng. Tôi cảm thấy đời tôi sẽ không bao giờ gặp được điều may mắn. Mẹ nghiến răng ho vài tiếng, nhưng đấy là kiểu cười lạ đời của bà.
– Mày nói đúng! – bà nói – Đáng ra mày chỉ đáng giá nửa yen thôi. Đấy, tao cứ tưởng mày thông minh, nhưng té ra mày ngu đần không biết cái gì hết.
Bà ta hút thuốc một lát rồi tiếp:
– Tao đã trả 75 yen để mua mày. Rồi mày làm hỏng cái áo kimono, ăn cắp ghim hoa, rồi bây giờ làm gãy tay khiến tao phải chi tiền thuốc men bác sĩ, số tiền này tao sẽ cộng vào số nợ của mày. Cộng thêm tiền ăn tiền học nữa, và sáng nay tao nghe bà chủ ở đàng nhà Tatsuyo ở quận Miyagawa-cho, cho biết con chị mày đã chạy trốn. Bà ấy chưa trả hết nợ cho tao. Tao cộng thêm số tiền này vào nợ của mày, nhưng tao nghĩ việc này có nghĩa lý gì không, mày đã biết tiền nợ của mày quá nhiều không làm sao trả được.
Thế là chị Satsu đã trốn được. Cả ngày tôi cứ phân vân thắc mắc, và bây giờ tôi đã có câu trả lời. Tôi muốn mừng cho chị ấy, nhưng không thể được.
– Tao cứ nghĩ mày sẽ trả lại cho tao sau mười lăm năm làm geisha – bà ta nói tiếp – nếu mày thành công được trong nghề này. Nhưng ai dám đầu tư đồng nào nữa vào một đứa chạy trốn?
Tôi không biết trả lời ra sao, cho nên tôi nói với Mẹ là tôi rất ân hận. Nãy giờ bà nói với tôi rất tử tế, nhưng khi nghe tôi xin lỗi, bà ta liền để ống vố lên bàn, bạnh hàm xai ra – tôi nghĩ vì tức giận – khiến cho tôi có cảm giác bà giống con thú sắp vồ mồi.
– Mày mà ân hận à? Tao là đồ điên mới đầu tư quá nhiều vào mày ngay từ ngày đầu như thế. Có lẽ mày là con giúp việc đắt giá nhất ở Gion! Nếu tao bán xương mày được để lấy lại vốn thì tao róc xương mày ra ngay bây giờ!
Nói xong bà bảo tôi ra khỏi phòng rồi bỏ ống vố vào miệng lại.
Khi ra khỏi phòng bà ta, môi tôi run lên, nhưng tôi cố giữ bình tĩnh, vì Hatsumono đang đứng trên chỗ đầu cầu thang. Ông Bekku đang đợi để buộc giải thắt lưng cho cô ta tôi khi bà Dì đang đứng trước mặt Hatsumono, cầm cái khăn nhỏ trong tay, nhìn vào mặt cô ta.
– Rồi, bị vấy dơ hết rồi – bà Dì nói – Tôi không làm thêm được nữa. Cô cứ khóc cho đủ rồi trang điểm lại từ đầu.
Tôi hiểu ngay lý do tại sao Hatsumono khóc. Anh bồ của cô ta không gặp cô ta, bây giờ cô bị cấm không được đem ông ta đến đây. Tôi biết chuyện này từ sáng hôm kia và tôi biết chắc Hatsumono sẽ đổ lỗi hết chuyện này lên đầu tôi. Tôi cố đi nhanh xuống thang lầu trước khi cô ta kịp thấy tôi, nhưng quá trễ rồi. Cô ta giật cái khăn trên tay bà Dì, ra dấu gọi tôi đến. Tôi không muốn đến, nhưng làm sao không nghe lời cô ta cho được!
– Cô không có việc gì với Chiyo hết – bà Dì nói với cô ta – Vào phòng mà trang điểm đi.
Hatsumono không đáp, mà kéo tôi vào phòng cô ta rồi đóng cửa lại. Cô ta nói với tôi:
– Tao đã bỏ công nhiều ngày để tìm cách làm hại đời mày, nhưng bây giờ mày chạy trốn, thế là mày đã làm việc ấy thay tao! Tao vui mừng khôn xiết! Tao cứ đợi đến lúc tao làm cho được việc ấy.
Thật là quá thô bạo đối với tôi, nhưng tôi vẫn cúi chào Hatsumono rồi đẩy cửa đi ra mà không đáp lại. Cô ta có thể đánh tôi vì hành động này, nhưng cô ta chỉ đi theo tôi ra ngoài và nói tiếp:
– Nếu mày thắc mắc không biết số phận con ở suốt đời sẽ ra sao, thì mày nên hỏi bà Dì cho biết! Mày và bà ấy bây giờ giống như hai đầu mút của một sợi dây. Bà ấy bị gãy xương hông, còn mày gãy xương tay. Có lẽ có ngày trông mày như một người đàn ông, y như bà Dì vậy!
– Thôi, thôi Hatsumono – Bà Dì nói – Hãy tỏ ra có lòng thương xót chúng tôi một chút chứ.
Nhớ lại thời tôi chừng năm sáu tuổi, thời không bao giờ tôi dám nghĩ đến Kyoto, tôi có quen một đứa con trai trong làng tên Noboru. Tôi thấy cậu ấy dễ thương, nhưng cậu ta mở miệng nói cái gì, tất cả bọn trẻ đều không thèm chú ý. Cho nên Noboru thường ngồi bệt xuống đất mà khóc. Những tháng tiếp sau ngày trốn thoát thất bại của tôi, tôi thấy cuộc sống của tôi cũng giống như Noboru vậy, vì chẳng ai trong nhà thèm nói gì với tôi hết ngòai việc ra lệnh cho tôi làm việc. Bà Mẹ thường xem tôi như khói thuốc của bà, vì bà có nhiều việc quan trọng để lo nghĩ. Nhưng bây giờ tất cả gia nhân trong nhà, cả bà đầu bếp và Bà Ngọai, đều làm như thế.
Suốt cả mùa đông lạnh như cắt năm ấy tôi cứ phân vân không biết Satsu ra sao, mẹ và bố tôi ra sao. Đêm nào khi nằm ngủ tôi cũng đau đớn lo âu, tôi cảm thấy lòng trống vắng như thể thế giới này chỉ là một gian phòng khổng lồ vắng bóng người. Để an ủi mình, tôi nhắm mắt tưởng tượng tôi đang đi trên con đường bên chân núi đá ven biển ở Yoroido. Tôi nhớ con đường này rất rõ và tôi hình dung ra trước mắt cảnh tôi đang thong dong về nhà trên con đường ấy như thể tôi và Satsu đã trốn thóat được. Tôi tưởng tượng ra cảnh tôi nắm tay chị Satsu đi về phía ngôi nhà ngà say – nhưng sự thật trước đây chưa bao giờ tôi muốn nắm tay Satsu lần nào- lòng nghĩ đến chuyện chúng tôi sẽ được sống sum họp với bố mẹ thêm một thời gian nữa. Tôi chưa bao giờ dám tưởng tượng ra việc về lại nhà tôi, có lẽ vì tôi sợ sẽ chứng kiến cảnh thực tế xảy ra tại đấy, nhưng dù sao thì việc tưởng tượng đi trên con đường về nhà cũng làm cho tôi an ủi được phần nào. Rồi thỉnh thỏang tôi nghe tiếng ho của một gia nhân nằm gần bên tôi, hay tiếng càu nhàu của Bà Ngọai theo gió thỏang tới, và chính lúc ấy, mùi nước biển ở quê nhà tan biến đi mất, đất lổm chổm trên đường dưới chân tôi hóa thành vải trải nệm, và tôi thấy mình trơ trọi một mình nơi đất khách quê người.
Khi mùa xuân đến, hoa anh đào nở rộ khắp công viên Maruyama, và không ai ở Kyoto muốn nói đến chuyện gì khác hết. Hatsumono bận rộn hơn thường khi lúc ban ngày, vì cô ta đi tham dự các buổi tiệc thưởng hoa. Cứ mỗi buổi chiều thấy cô ta chuẩn bị đi dự tiệc là tôi ghen tị. Tôi đã bắt đầu hết hy vọng về chuyện một đêm thức dậy thì thấy Satsu lẻn vào nhà kỹ nữ của tôi để cứu tôi, hay là hết hy vọng có ngày tôi sẽ được tin tức của gia đình tôi ở Yoroido. Rồi một buổi sáng khi Mẹ và Dì sửa sọan cho Bà Ngọai đi du xuân, tôi xuống thang lầu bỗng một gói hàng để trên nền nhà ở hàng lang phía trước nhà. Đấy là cái hộp dài bằng cánh tay tôi, gói trong giấy dày và buộc bằng gai bện. Tôi nghĩ đây không phải là công việc của tôi, nhưng vì quanh đấy không có ai, nên tôi đến đọc tên và địa chỉ viết thật lớn trên mặt gói hàng. Tên và địa chỉ như thế này:
Sakamoto Chiyo
Tại Nita kayodo
Gion Tominaga-cho
Thành phố Kyoto, quận Kyoto
Tôi qúa kinh ngạc đến nỗi tôi đứng sững một hồi lâu, tay bịt miệng và tôi nghĩ mắt tôi khi ấy chắc trợn tròn như hai cái tách trà. Dưới mấy con tem là địa chỉ của người gởi, người gởi là ông Tanaka. Tôi không biết trong gói có cái gì, nhưng nhìn tên ông Tanaka trên bao, chắc anh cho là quá vô lý, nhưng thật tình khi ấy tôi hy vọng rằng có lẽ ông ta nhận ra việc gởi tôi đến đây là một lỗi lậm và bây giờ ông gởi đến cho tôi cái gì đấy để tôi dùng nó mà mua lại tự do ra khỏi nhà kỹ nữ. Tôi không tưởng tượng được cái gói như thế này lại có thể giúp một cô gái thoát khỏi cảnh nô lệ, tôi gặp cảnh đau buồn nên cứ tưởng tượng ra thế thôi. Nhưng thật tình tôi tin rằng khi cái gói này được mở ra, cuộc đời tôi cũng được đổi thay.
Tôi đang tính xem phải làm gì thì bà Dì trên lầu đi xuống, bà đẩy tôi ra xa cái gói hàng, mặc dù tên tôi ghi trên đó. Tôi muốn mở cái gói ra ngay, nhưng bà sai tôi đi lấy dao để cắt dây thừng và thủng thỉnh tháo dây buộc cái gói ra. Dưới giấy gói là một lớp vải bao quanh được khâu lại bằng chỉ khâu lưới đánh cá. Một chiếc phong bì ghi tên tôi được khâu vào một góc bao. Bà Dì cắt chiếc phong bì ra rồi xé lớp vải bọc để lộ ra một cái hộp gỗ sơn đen. Tôi rất nôn nóng muốn biết có gì trong cái hộp nhưng khi bà Dì và tôi mở nắp hộp ra, tôi bỗng cảm thấy nặng nề khó chịu. Vì trong hộp, nằm giữa lớp vải trắng xếp nếp là những chiếc thẻ bài vị tên người chết mà tôi đã thấy để trên bàn thờ ở ngôi nhà ngà say của chúng tôi. Có hai thẻ, mà trước đây tôi chưa thấy, trông mới hơn những thẻ khác và có pháp danh mới lạ viết trên đó mà tôi không hiểu nghĩa. Tôi lo sợ không biết tại sao ông Tanaka gởi cái thư này đến cho tôi.
Bỗng bà Dì để cái hộp có những chiếc bài vị xếp ngay ngắn trong đó lên nền nhà. Bà lấy bức thư trong phong bì ra đọc. Tôi đứng yên chờ đọi, lòng lo sợ không dám nghĩ đến cái gì hết. Cuối cùng bà Dì thở dài, nắm tay tôi dẫn vào phòng khách. Khi tôi quỳ xuống nơi bàn, hai tay tôi run lên trên hai đùi chân, có lẽ vì tôi cố gắng để giữ trí óc khỏi nghĩ đến những điều khủng khiếp. Có lẽ đây là dấu hiệu hy vọng khi thấy ông Tanaka gởi những tấm bài vị đến cho tôi. Phải chăng gia đình tôi sẽ chuyển đến ở tại Kyoto, và chúng tôi sẽ mua cái bàn thờ mới để sắp các bài vị lên mà thờ? Hay có lẽ Sasu yêu cầu người ta gởi các bài vị này đến cho tôi vì chị ấy sắp trở về? Và rồi tiếng bà Dì cắt đứt dòng suy tưởng của tôi:
– Chiyo, ta đọc cho cháu nghe bức thư do một người đàn ông tên là Tanaka viết – bà nói bằng giọng trầm trầm, chậm rãi. Tôi như muốn hụt hơi khi thấy bà trải tờ giấy trên mặt bàn.
Chiyo thân mến,
Hai mùa đã trôi qua kể từ ngày cô rời khỏi Yoroido và chẳng bao lâu nữa cây cối sẽ đâm chồi nảy lộc, đâm hoa kết trái. Cảnh hoa nở hoa tàn nhắc cho chúng ta biết rồi ra ai trong chúng ta cũng phải chết.
Là người xuất thân trong cảnh mồ côi, kẻ hèn này rất đau xót khi báo cho cô biết một tin rất buồn. Sau tuần sau ngày cô ra đi để sống cuộc đời mới ở Kyoto, nỗi đau đớn của người mẹ đáng kính của cô đã đến chỗ chấm dứt, và chỉ vài tuần sau, người cha đáng kính của cô cũng từ giã cõi đời này. Kẻ hèn này hết sức đau xót trước sự mất mát này của cô và hy vọng cô an tâm vững tin rằng thi hài của song thân cô đều được an táng hẳn hoi tại nghĩa trang làng. Lễ cầu siêu cho hai người đã được tổ chức tại đền Hoko-ji ở Senzuru, thêm vào đó các bà ở Yoroido đã tụng kinh cầu nguyện cho họ. Kẻ hèn này tin chắc cả hai bố mẹ cô được lên cõi cực lạc.
Việc học tập của người geisha mới vào nghề rất gian khổ. Tuy nhiên, kẻ hèn này rất mến mộ những ai chịu đựng gian khổ để trở thành những nhà nghệ sĩ vĩ đại. Cách đây mấy năm tôi có đến thăm Gion, tôi được hân hạnh xem những màn múa xuân và sau đó đi dự tiệc ở phòng trà, cảnh diễn ra còn để trong lòng tôi ấn tượng sâu sắc. Cô Chiyo, tôi cảm thấy rất sung sướng khi thấy cô có được chỗ đứng bình an trong cuộc đời này, và mong sao cô thoát khỏi cảnh khổ đau trong những năm bấp bênh bất định. Kẻ hèn này đã sống khá lâu để chứng kiến được hai thế hệ trẻ con trưởng thành, kinh nghiệm cho thấy rằng hiếm khi loại chim bình thường mà sinh ra được giống thiên nga. Con thiên nga nào ỷ lại sống trong tổ của cha mẹ đều sẽ bị tiêu vong, cho nên kẻ nào có sắc có tài đểu phải khổ công luyện tập mới tìm được con đường vinh quang trên cõi đời này.
Chị cô, Satsu, đã về Yoroido vào cuối mùa thu vừa qua, nhưng cô ấy đã bỏ đi biệt tích với con trai ông Sugi. Ông Sugi rất mong mỏi thấy lại đứa con thân yêu trong lúc ông còn sống, cho nên ông ta yêu cầu cô vui lòng báo cho ông ta biết ngay, nếu cô có tin tức gì về chị cô.
Thân ái chào cô,
Tanaka Ichiro.
Trước khi bà Dì đọc xong bức thư nước mắt đã chảy ra trên mặt tôi đầm đìa như nước phụt ra trên ấm nước sôi. Dĩ nhiên khi nghe tin bố mẹ mất ai mà không đau đớn. Nhưng khi nghĩ đến chuyện cả bố lẫn mẹ đều qua đời để lại tôi một mình, vì khi biết chị tôi cũng đã biến mất…tôi liền cảm thấy mình như chiếc bình vỡ không đứng vững được. Tôi lại còn như bị lạc lõng trong căn phòng này nữa.
Chắc anh cho tôi quá thơ ngây vì tôi cứ mãi hy vọng mẹ tôi vẫn còn sống suốt nhiều tháng trời. Nhưng thực ra tôi không mấy hy vọng. Tôi hy vọng là vì tôi muốn có cái gì đấy để bám vào mà sống. Bà Dì rất tốt với tôi trong khi tôi cố chịu đựng nhiều đau khổ. Bà ta cứ nói mãi với tôi:
– Ráng lên, Chiyo, ráng lên. Sống trong cuộc đời này, chúng ta ai cũng phải cố ráng hết.
Khi tôi đã bình tĩnh có thể nói lại được, tôi yêu cầu bà ta hãy để các bài vị ấy nơi nào tôi không thấy, và nhờ bà cúng bái giúp – vì công việc này sẽ làm cho tôi đau khổ thêm. Nhưng bà từ chối, bà nói rằng quay lưng lại với tổ tiên như thế thật đáng xấu hổ. Bà giúp tôi để các bài vị trên cái kệ gần chân cầu thang lầu, ở đấy tôi có thể cầu nguyện vào mỗi sáng. Bà nói:
– Cháu Chiyo, cháu đừng quên tổ tiên. Họ là những gì còn lại thuộc thời thơ ấu của cháu. 

 

Đời kỹ nữChương 9

 

Vào dịp lễ sinh nhật thứ 65 của tôi, một người gởi đến cho tôi một bài báo mà bà ta đã tìm thấy ở đâu đó, bài báo có nhan đề “Hai mươi nàng geisha vĩ đại nhất trước đây ở Gion”. Hay có lẽ là ba mươi nàng geisha gì đấy, tôi không nhớ rõ. Nhưng tôi có tên trong danh sách đó với một dòng ngắn viết về tôi, trong đó cho rằng tôi sinh ra ở Kyoto – dĩ nhiên điểm này là sai. Tôi còn xin cam đoan với anh rằng tôi không phải là một người trong số hai mươi geisha vĩ đại nhất nữa, có người sai lầm giữa cái vĩ đại với cái họ nghe nói đến. Nhưng dù sao, nếu ông Tanaka không viết thư báo cho tôi biết bố mẹ tôi đã mất và có lẽ không bao giờ tôi gặp lại chị tôi nữa, thì chắc tôi đã may mắn không trở thành nàng geisha không có gì đáng hãnh diện vì nàng là nàng geisha không được hạnh phúc.
Chắc anh còn nhớ có lần tôi đã nói với anh rằng khi tôi gặp ông Tanaka lần đầu là buổi chiều tuyệt nhất của đời tôi, mà cũng là buổi chiều tệ hại nhất. Có lẽ không cần giải thích tại sao lại là một buổi chiều tệ hại nhất, nhưng chắc anh thắc mắc tại sao tôi có thể nghĩ rằng đã có điều tuyệt vời xảy đến. Quả đúng là cho đến khi ấy, ông Tanaka chỉ mang lại cho đời tôi đau khổ mà thôi, thế nhưng ông ta đã làm thay đổi chân trời của tôi. Chúng ta sống trên đời giống như nước chảy xuống một ngọn đồi, đều chảy theo một hướng cho đến khi chúng ta gặp phải cái gì đấy buộc chúng ta phải rẽ sang một hướng khác. Nếu tôi không gặp ông Tanaka, thì đời tôi chỉ là một dòng nước chảy từ ngôi nhà ngà say cho đến biển. Khi ông ta xô tôi về chỗ xa lạ, ông đã thay đổi tất cả. Nhưng bị đẩy vào thế giới xa lạ không giống hẳn như rời bỏ gia đình của mình. Khi nhận được thư của ông Tanaka, tôi đã sống ở Gion hơn sáu tháng, thế mà trong thời gian ấy, tôi chưa bao giờ từ bỏ lòng tin rằng một ngày nào đó tôi sẽ có cuộc sống ở đâu đó tốt đẹp hơn, với người thân yêu trong gia đình. Tôi chỉ sống ở Gion một nửa, còn nửa kia tôi sống trong các giấc mơ sẽ về lại nhà. Cho nên có thể nói những giấc mơ nhiều khi rất nguy hiểm, chúng như ngọn lửa âm ỉ, và nhiều khi thiêu rụi hoàn toàn chúng ta.
Suốt những ngày còn lại của mùa xuân, và cả mùa hè sau ngày tôi nhận được bức thư, tôi thấy mình như đứa trẻ lạc trong cái hồ bị sương mù bao phủ. Ngày nối ngày trôi qua trong một cảnh vô vị. Tôi chỉ nhớ cái được cái mất, nỗi khổ và lòng lo sợ triền miên ngự trị trong tôi. Khi mùa đông tới, tôi chỉ biết ngồi trong phòng gia nhân để nhìn tuyết rơi lặng lẽ ngòai sân. Tôi tưởng tượng ra cảnh bố tôi ho nơi chiếc bàn đơn độc trong ngôi nhà lạnh lẽo của chúng tôi, và mẹ tôi quá gầy trên chiếc nệm đến nỗi thân hình của bà không làm cho chiếc nệm xẹp xuống được tí nào. Tôi đi ra ngòai sân để giải sầu, nhưng sao khó quá.
Rồi mùa xuân lại về. Lúc ấy là tháng tư, hoa anh đào lại nở, chuyện lạ xảy đến đúng một năm sau ngày tôi nhận được thư của ông Tanaka. Tôi đã được 12 tuổi, đã bắt đầu trổ mã, mặc dù Bí Ngô vẫn còn vẻ bé bỏng. Người tôi phát triển theo chiều cao nhiều hơn. Thân hình vẫn còn gầy và thẳng đuột như cái que thêm một hai năm nữa, nhưng mặt tôi đã mất vẻ con nít. Cằm và gò má đã rõ nét trên khuôn mặt nở nang và cặp mắt có hình trái hạnh đào. Trước đây, mỗi khi ra đường , đàn ông không nhìn tôi, nhưng bây giờ mỗi khi tôi đi qua họ, họ đều nhìn tôi.
Không hiểu sao mà vào một buổi sáng sớm tháng tư, tôi thức dậy sau một giấc mơ kỳ lạ nhất, trong giấc mơ tôi đã gặp một người đàn ông có râu. Râu của ông ta rất rậm như thể ông ta muốn che dấu nét mặt của ông ta đi. Ông ta đứng trước mặt tôi, nói cái gì đấy mà tôi không nhớ được, rồi thình lình ông ta kéo cái màn giấy trên cửa sổ bên cạnh ông, làm phát ra một tiếng cạch lớn. Tôi giật mình thức dậy, nghĩ rằng tôi đã nghe có tiếng động trong phòng. Những người giúp việc thở dài trong giấc ngủ. Bí Ngô nằm yên lặng, cái mặt tròn vạnh lún xuống trên gối. Tôi thấy mọi vật không có gì thay đổi nhưng tôi có một cảm giác khác lạ. Tôi cảm thấy như thể tôi chìm vào một thế giới đã thay đổi phần nào so với thế giới mà tôi đã thấy vào đêm trước – nhất là khi nhìn ra ngòai qua chính cái cửa cổ đã được mở ra trong giấc mộng.
Tôi không lý giải được ý nghĩa của hiện tượng này. Sáng hôm ấy tôi cứ nghĩ mãi về giấc mơ đến nỗi đầu óc tôi kêu ù ù như con ong bị nhốt trong cái thẩu. Và rồi chuyện ấy hiện ra trong trí óc tôi, chuyện mà tôi không bao giờ nghĩ đến kể từ khi tôi đặt chân tới Kyoto.
Sau khi chia tay chị tôi vài hôm, vào một buổi chiều, người ta sai tôi đi giặt giẻ lau nhà. Bỗng một con bướm bay đến đậu vào tay tôi, tôi hất nó đi, nghĩ rằng nó sẽ bay di, nhưng thay vì bay đi, nó lại văng ra như hòn đá rồi rớt xuống sân, nằm trên mặt đất. Tôi không biết nó đã chết khi từ trên rơi xuống hay là tôi đã giết nó, nhưng hình ảnh con vật bé nhỏ nằm chết làm tôi xúc động. Tôi ngắm hình hoa văn xinh đẹp trên hai cánh của nó rồi tôi gói nó vào miếng giẻ và giấu nó dưới móng nhà.
Từ đó tôi không nghĩ đến con bướm này nữa, nhưng một hôm tôi nhớ đến nó, tôi đến quỳ xuống nhìn dưới móng nhà tìm nó. Rất nhiều chuyện trong đời tôi đã thay đổi, ngay cả thái độ tôi nhìn đời, nhưng khi tôi mở miếng giẻ gói con bướm ra, nó vẫn còn hình hài một con bướm rất đẹp y như cái ngày mà tôi chôn nó xuống mộ. Giá mà đời tôi y như những ngày tôi mới đến Kyoto.
Khi nghĩ thế, đầu óc tôi quay cuồng như cơn lốc. Tôi nghĩ rằng con bướm và tôi như hai thái cực. Cuộc đời tôi biến hóa như dòng suối , thay đổi hoài; nhưng con bướm trông không thay đổi gì hết. Trong lúc suy nghĩ, tôi đưa tay đụng vào thân hình mượt mà của nó, lập tức nó biến thành một nhúm tro mà không gây ra một tiếng động, thậm chí không thấy được cảnh nó sụm xuống thành một đống tro. Tôi quá sửng sốt đến độ thốt ra một tiếng kêu ngạc nhiên. Trí óc tôi quay cuồng, tôi cảm thấy mình đang ở trung tâm của cơn bão. Tôi thả tay cho miếng vải liệm bé xíu và nhúm tro rơi xuống đất. Bây giờ tôi đã hiểu điều gì làm cho tôi hoang mang cả buổi sáng. Mùi xú uế trong không khí đã hết, quá khứ đã qua rồi, bố mẹ tôi đã chết, tôi không thể làm gì được để thay đổi tình thế này. Nhưng tôi cứ tưởng tôi không đi tiếp được. Tôi không biết chuyện này đối với anh có ý nghĩa gì không, nhưng tôi thấy tôi đã quay một vòng nhìn sang hướng khác, hướng về phía tương lai. Và bây giờ vấn đề đặt ra cho tôi là cái tương lai ấy sẽ như thế nào.
Ngay khi câu hỏi ấy hiện ra trong óc tôi, tôi biết chắc chắn một điều là nội trong ngày hôm ấy thôi, thế nào tôi cũng thấy dấu hiệu lạ. Vì thế mà trong giấc mơ tôi thấy người đàn ông râu rậm mở cửa sổ. Ông ta như nói với tôi rằng “Hãy đợi điều xảy ra cho cô. Vì cái điều mà cô thấy sẽ là tương lai của cô.”
Tôi đang loay hoay như chưa kịp suy nghĩ điều gì thêm thì có tiếng bà Dì gọi tôi:
– Này Chiyo, lại đây.
Tôi đi trên hành lang đất như người mộng du. Khi ấy chắc tôi sẽ không ngạc nhiên nếu bà Dì nói với tôi như thế này “Cháu muốn biết về tương lại của cháu như thế nào phải không? Được rồi, hãy lắng tai nghe cho kỹ…” Nhưng thay vì nói thế, bà đưa cho tôi hai vật trang sức trên tóc gói trong một miếng lụa vuông màu trắng, bà nói:
– Đem các thứ này đến cho Hatsumono. Có trời mà biết đêm qua có chuyện gì xảy đến cho cô ta. Cô ta về nhà với đồ trang sức của người khác. Chắc cô ta say quá vì uống nhiều sake hơn mọi khi. Đến trường hỏi cô ta và của ai thì trả lại cho họ.
Khi tôi lấy các món nữ trang, bà Dì đưa thêm cho tôi một mẩu giấy ghi những việc lặt vặt khác phải làm. Bà bảo tôi làm xong việc là phải về nhà ngay.
Mang đồ trang sức của người khác về nhà có lẽ không có gì kỳ cục, nhưng thực ra mang những thứ ấy cũng giống như mang đồ lót của người khác về nhà vậy. Giới geisha không gội đầu hàng ngày, chắc anh biết, vì họ sợ hư mái tóc. Cho nên vật trang sức trên tóc rất kiêng kỵ, ngay cả bà Dì mà cũng không muốn đụng đến những thứ ấy. Cho nên bà phải lấy một miếng lụa vuông để lót tay. Bà gói các thứ ấy rồi đưa cho tôi, cho nên nó giống như cái gói đựng xác con bướm đêm mà tôi cầm cách đấy mấy phút. Dĩ nhiên điềm báo hiệu nào rõ ràng quá cũng làm cho ta sửng sốt. Tôi đứng yên nhìn gói đồ trên tay bà Dì mãi cho đến lúc bà nói:
– Trời ơi! Cầm lấy mà đi đi chứ!
Sau đó khi trên đường đến trường, tôi mở cái gói ra xem một lần nữa. Một vật là cái lược sơn mài đen có hình như hình mặt trời lặn, chung quanh mặt trời là những đóa hoa bằng vàng, vật kia là một thanh gỗ vàng, hai đầu có hai hột ngọc được đính vào một quả cầu nhỏ màu hổ phách.
Tôi đứng đợi ngoài cổng trường cho đến khi tiếng chuông reo lên báo hiệu giờ tan học. Các cô mặc áo màu xanh trắng ào ra khỏi lớp. Hatsumono thấy tôi trước khi tôi kịp nhìn thấy cô ta, cô cùng đi với một geisha khác, cả hai tiến về phía tôi. Chắc anh thắc mắc tại sao cô ta còn đến trường, cô ta là một vũ công thành thạo và biết hết các môn cần thiết mà một geisha phải biết. Nhưng ngay cả những geisha có tiếng tăm cũng vẫn tiếp tục học những bài học nâng cao về bộ môn múa để áp dụng trong nghề, thậm chí có những geisha năm sáu chục tuổi vẫn đến trường để học hỏi thêm.
– Này chị, nhìn kìa – Hatsumono nói với bạn – tôi tưởng đấy là cây sậy. Cây sậy cao lêu đêu! – Đấy là kiểu cô ta chọc quê tôi, vì tôi cao hơn cô ta đến một lóng tay.
– Bà Dì sai tôi đến đây, thưa cô – tôi nói – để hỏi đêm qua cô đã cầm nhầm những thứ này của ai.
Nụ cười tắt trên môi Hatsumono, cô ta giật cái gói trên tay tôi và mở ra xem.
– Trời đất! Đồ này không phải của tôi! Cô lấy các thứ này ở đâu?
– Ồ chị Hatsumono – cô geisha kia nói – chị không nhớ à? Trong lúc chị và Kanako giỡn cợt với ông Chánh án Uwazumi, hai người đã tháo nữ trang trên tóc ra. Chắc Kanako đã mang đồ nữ trang của chị, còn chị thì mang đồ của cô ta về nhà.
– Tởm quá – Hatsumono nói – chị có biết Kanako gội đầu khi nào không? Vả lại nhà của cô ấy gần nhà chị, nhờ chị đem về cho cô ta giúp tôi, được không? Nhờ chị nói với cô ta rằng tôi sẽ đến lấy các món đồ của tôi và cô ta chớ có xài các thứ ấy.
Cô geisha kia lấy các thứ trang sức và bỏ đi.
Hatsumono nói với tôi:
– Này Chiyo, khoan hãy đi đã. Có chuyện này tôi muốn nói với cô, hãy nhìn cô gái đàng kia kìa, cô gái đang đi qua cổng đấy. Tên cô ta là Ichikimi.
Tôi nhìn Ichikimi, nhưng Hatsumono có vẻ như không có gì thêm để nói về cô ta, tôi bèn nói:
– Nhưng tôi không biết cô ấy.
– Dĩ nhiên là không, cô ta không có gì đặc biệt đáng chú ý, chỉ là đồ ngu ngốc vụng về như con què. Nhưng cô sẽ rất ngạc nhiên khi biết cô ta sắp thành geisha còn cô thì không bao giờ.
Tôi thấy Hatsumono không thể tìm ra được điều gì để nói với tôi độc ác hơn điều cô đã nói. Từ một năm rưỡi nay tôi đã bị giao công việc nặng nhọc như một con ở. Tôi cảm thấy đời tôi đang đi theo một con đường vô định. Tôi không muốn thành geisha, nhưng tôi cũng không muốn làm tôi tớ mãi. Tôi đứng trong vườn của trường học một lúc lâu, nhìn các cô gái cùng tuổi với tôi chuyện trò vui vẻ với nhau khi họ đi qua trước mặt tôi. Chắc họ trở về nhà ăn trưa, nhưng đối với tôi, họ đi từ một công việc quan trọng này đến một việc quan trọng khác trong một cuộc sống có mục đích, còn tôi thì trái lại , tôi phải quay về với công việc lau chùi các viên đá trong sân, làm những công việc quá hèn hạ. Khi trong vườn hết người, tôi lo sợ nghĩ rằng đây là cái điềm báo trước mà tôi chờ đợi – nó báo cho biết các cô gái kia ở Gion sẽ tiến lên và để tôi lại đàng sau. Cái ý nghĩ này khiến tôi khiếp sợ, làm cho tôi không thể ở lại trong vườn một mình được nữa. Tôi đi vào đại lộ Shijo, rồi đi qua con sông Kamo. Những tấm bích chương khổng lồ nơi nhà hát Minamiza, quảng cáo buổi trình diễn vở kịch của Kabuki vào chiều ấy có tên Shirabaku. Đây là vở kịch nổi tiếng nhất của chúng tôi mặc dù lúc ấy tôi không biết gì về Kabuki hết. Từng đoàn người bước lên thềm vào rạp hát. Ở đây, tôi thấy cuộc sống sôi động diễn ra quanh tôi. Tôi vội vã đi ra khỏi đại lộ, rẽ vào một con đường khác chạy dọc bờ sông Shirakawa, nhưng ngay ở đây, các ông và các nàng geisha cũng đi tấp nập, cuộc đời của họ có mục đích để hướng đến. Để khỏi đau đớn khi nhìn thấy cảnh tượng này, tôi đi ra phía bờ suối Shirakawa, nhưng độc ác thay, ngay cả nước trong dòng suối cũng đang chảy đến một nơi nào đấy có mục đích – nó chảy về phía sông Kamo rồi từ đó đổ ra vịnh Osaka và vào Nội hải . Hình như ở đâu cũng có điều mách bảo có điều gì đó đang chờ đợi tôi. Tôi đứng tựa lưng vào bức tường đá nhỏ bên dòng suối mà khóc. Tôi là hòn đảo bị bỏ rơi ở giữa đại dương, không quá khứ cũng không tương lai. Tôi cứ nghĩ ở đây không có bóng người, bỗng tôi nghe có tiếng đàn ông cất lên:
– Trời ơi ai lại đau khổ khi cuộc đời tươi đẹp như thế này.
Thường thường đàn ông đi trên phố Gion không có ai thèm để ý đến tôi, nhất là khi tôi đang khóc như một kẻ điên khùng như thế này. Nếu ông ta thấy, chắc không đời nào ông ta nói với tôi, trừ phi ra lệnh cho tôi tránh đường cho ông ta đi, hay đại lọai như thế. Thế nhưng ông ta đã nói với tôi, mà còn nói một cách rất tử tế. Ông ta nói với tôi như người thân quen – có lẽ như nói với con gái của một người bạn tốt. Bỗng dưng tôi thấy trước mắt tôi như có một thế giới khác hiện ra, khác với thế giới mà tôi đang sống, một thế giới mà nơi đó tôi được đối xử công bằng, thậm chí với lòng tốt nữa – một thế giới mà người cha không đem bán đứa con gái đi. Tiếng ồn ào huyên náo của những người đang sống có mục đích bỗng nhiên dừng lại, hay ít ra tôi không quan tâm đến. Và khi tôi ngước mắt nhìn người đàn ông đã nói với tôi, tôi có cảm giác sự khổ đau của tôi biến đâu mất.
Tôi rất sung sướng miêu tả ông ta cho anh nghe, nhưng tôi chỉ nói một cách đơn giản thôi – bằng cách nói cho anh nghe về một cái cây mọc trên bờ núi đá ven biển ở Yoroido. Thân cây này trơn láng vì gió, vì mưa, và khi tôi lên bốn hay năm gì đấy, một hôm tôi thấy trên thân cây có hình thù giống khuôn mặt một người đàn ông. Khuôn mặt hơi nghiêng về một bên nhìn tôi đăm chiêu. Khuôn mặt nhìn tôi như người đàn ông tự tin về vị trí của ông ta trên cõi đời này, như cái cây rất tự tin về vị trí của nó vậy. Đường nét trên khuôn mặt ấy có vẻ trầm tư, tôi mường tượng ra đấy là khuôn mặt của Đức Phật.
Người đàn ông nói với tôi trên đường hôm ấy có khuôn mặt rộng và trầm tĩnh như thế, và có điểm đặc biệt hơn nữa là nét mặt ông ta rất hài hòa, thanh khiết. Tôi có cảm giác ông ta sẽ đứng đấy cho đến khi tôi hết đau khổ. Ông ta vào khoảng 45 tuổi, mái tóc muối tiêu chải ngược ra sau. Nhưng tôi không thể nhìn ông ta lâu được, ông ta có vẻ quá sang trọng đối với tôi, khiến cho tôi đỏ mặt, quay đi nhìn chỗ khác.
Hai thanh niên đứng một bên ông, bên kia là một cô geisha. Tôi nghe nàng geisha bình tĩnh nói với ông:
– Này, cô ta chỉ là con ở thôi! Có lẽ khi đi làm công việc, cô ta vấp ngón chân vào đá. Em nghĩ sẽ có người nào đấy đến giúp cô ta.
– Cô Izuko, – ông ta nói – ước gì cô có lòng nhân từ.
– Buổi trình diễn sắp bắt đầu rồi, ông Chủ tịch à. Ông không nên phí thời giờ…
Trong lúc đi làm các công việc lặt vặt ở Gion, tôi thường nghe đàn ông được gọi bằng chức phận như Trưởng phòng, hay thỉnh thoảng Phó giám đốc, nhưng hiếm có ai được gọi là ông Chủ tịch. Thường thì những ai được gọi là Chủ tịch đều có đầu hói, ra đường đi nghênh ngang và có cả đám nhân viên lau chau đi theo sau. Người đàn ông trước mặt tôi rất khác xa với các ông Chủ tịch thường thấy, ngay cả một cô gái ít kinh nghiệm về cuộc đời như tôi, tôi cũng còn thấy thế.
– Chắc cô nói nếu tôi dừng lại đây để giúp cô ta là phí thì giờ vô ích chứ gì? – ông Chủ tịch nói.
– Ồ phải – cô geisha nói – ta đâu còn thì giờ nhiều để nói chuyện tầm phào. Chúng ta đã trễ xem màn đầu rồi.
– Này cô Izuko, chắc chắn có lúc cô đã lâm vào tình trạng như cô bé này. Cô đừng quả quyết cuộc đời của một geisha lúc nào cũng đơn giản. Tôi nghĩ giới các cô…
– Em mà lâm vào tình cảnh như cô gái này à? Ông Chủ tịch, bộ ông muốn nói em phải phơi mặt ra ngoài đường sao?
Nghe thế, ông Chủ tịch quay qua hai thanh niên đi bên cạnh yêu cầu họ đưa Izuko đến nhà hát trước. Họ chào ông rồi bước đi, còn ông nán lại với tôi. Ông ta nhìn tôi một hồi lâu nhưng tôi không dám nhìn lại ông. Cuối cùng tôi nói:
– Thưa ngài, cô ấy nói thế đúng đấy. Tôi chỉ là một con điên. Xin ngài đừng vì tôi mà đến trễ.
– Cô hãy đứng yên một lát xem – ông ta nói.
Tôi không dám không vâng lời ông ta, nhưng tôi không biết ông muốn gì. Thì ra ông chỉ lấy khăn trong túi áo lau để những hạt cát dính trên mặt tôi. Đứng gần bên ông, tôi ngửi thấy mùi phấn thơm trên làn da láng lẩy của ông, việc này khiến tôi nhớ lại ngày người cháu trai của Hoàng đế Taisho đến thăm làng đánh cá của chúng tôi. Ông ta chỉ có việc bước ra khỏi xe hơi, đi đến con vịnh nhỏ, rồi đi lui, gật đầu chào đám đông quỳ trước mặt ông ta, trên người mặc bộ âu phục, – bộ âu phục tôi thấy lần đầu – vì tôi đã nhìn vào ông, mặc dù không được phép. Tôi còn nhớ bộ râu mép của ông được chăm sóc rất kỹ, không giống tóc tai của dân trong làng, bờm xờm như cỏ dại mọc bên đường. Trước đó chưa có một nhân vật quan trọng nào đến làng chúng tôi hết. Tôi nghĩ lúc đó mọi người đều cảm thấy xúc động trước vẻ cao quý của người cháu của Hoàng đế.
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những việc mà chúng ta không hiểu, vì chúng ta chưa bao giờ thấy những việc giống như thế. Việc ông Chủ tịch tốt với tôi cũng là một chuyện như vậy. Sau khi lau cát và nước mắt trên mặt tôi, ông nâng cằm tôi lên và nói:
– Cô em xinh đẹp như thế này…chẳng có gì trên đời này làm cho cô phải xấu hổ hết. Thế mà cô sợ không dám nhìn vào tôi. Hẳn người ta đối xử với cô độc ác quá, hay là cuộc đời quá độc ác.
– Tôi không biết thưa ngài – tôi đáp, nhưng dĩ nhiên ông ta nói quá đúng.
– Chúng ta không mấy ai gặp được người tốt trên đời này như lòng mình mong muốn – ông ta nói rồi nheo mắt một lát như thể nói tôi hãy suy nghĩ về điều ông ta vừa nói.
Tôi chỉ muốn nhìn lâu vào làn da mặt mịn màng của ông ta một lần nữa, với bộ lông mày rậm, hàng lông mi mướt như nhung trên cặp mắt dịu dàng, nhưng giữa hai chúng tôi có một cái hố ngăn cách về xã hội thật lớn. Cuối cùng tôi nhìn lên, nhưng tôi thẹn thùng quay mặt đi chỗ khác rất nhanh, đến nỗi chắc ông không thể nào biết được tôi đã nhìn vào mắt ông. Nhưng làm sao tôi có thể miêu tả được những cái tôi đã thấy lúc ấy? Ông ta nhìn tôi như người nhạc sĩ nhìn nhạc cụ của mình trước khi bắt đầu chơi nhạc, với vẻ thành thạo và tự chủ. Tôi cảm thấy ông ta hiểu tôi như thể tôi là một phần thể của ông. Tôi ước ao được làm nhạc cụ cho ông biết bao!
Bỗng ông thọc tay vào túi lấy ra cái gì đấy.
– Cô em thích mận ngọt hay dâu? – ông ta hỏi .
– Ngài nói gì? Ngài muốn nói…ăn à?
– Hồi nãy tôi có gặp người bán hàng rong, bán xi rô đá bào. Hồi còn nhỏ tôi rất thích ăn thứ ấy, nhưng khi đã trưởng thành rồi mới được ăn. Cô hãy cầm lấy một đồng tiền để mua một ly mà ăn. Cô lấy luôn cái khăn của tôi để lau mặt sau khi ăn xong – ông ta nói xong, bỏ đồng tiền vào giữa cái khăn, gói lại thành một gói, và đưa cho tôi.
Từ lúc gặp ông Chủ tịch, tôi quên chuyện tôi đang chờ đợi dấu hiệu báo cho biết tương lai của tôi. Nhưng khi tôi thấy cái gói trong tay, nó giống gói vải liệm con bướm, tôi nghĩ cuối cùng tôi đã gặp dấu hiệu báo trước tương lai. Tôi cầm lấy cái gói, cúi người chào cám ơn ông ta, cố nói cho ông ta biết tôi rất biết ơn ông – nhưng tôi nghĩ những lời tôi nói ra không bộc lộ hết đầy đủ tình cảm biết ơn của tôi lúc ấy. Tôi không cám ơn vì ông ta cho tôi đồng tiền, cũng không cám ơn việc ông ta đứng lại để giúp tôi, mà tôi cám ơn là vì…ờ, vì việc mà tôi không biết bây giờ tôi có thể giải thích được không. Tôi nghĩ vì ông đã chỉ cho tôi thấy rằng bên cạnh sự độc ác vẫn còn cái gì đấy ta có thể tìm được trong thết gian này.
Tôi nhìn ông đi mà lòng đau như cắt – nhưng là một nỗi đau dễ chịu , nếu có loại đau như thế. Tôi muốn nói rằng nếu anh được sống một buổi tối thú vị hơn bất cứ buổi tối nào khác, thì chắc thế nào anh cũng thấy buồn khi buổi tối thú vị ấy chấm dứt. Trong cuộc gặp gỡ ngăn ngủi với ông Chủ tịch, tôi đã thay đổi từ một cô gái lạc lõng trước cuộc đời trống rỗng thành một cô gái có cuộc sống có mục đích. Điều này nghe có vẻ khó tin nhưng với tôi nó là sự thật.
Khi ông Chủ tịch đã đi khỏi tầm mắt của tôi, tôi chạy ra phố tìm người bán đá bào rong. Hôm ấy trời không nóng, và tôi cũng không thích đá bào, nhưng tôi muốn ăn để cuộc gặp gỡ của tôi với ông Chủ tịch được lâu bền. Vì thế tôi mua một ly giống hình nón có đá bào và xirô dâu và đến ngồi trên mặt tường để ăn. Hương vị xirô thơm tho, dịu ngọt, tôi nghĩ thế vì lòng tôi rất hưng phấn. Nếu tôi là nàng geisha Izuko, tôi nghĩ, có lẽ ông Chủ tịch đã ở với tôi. Tôi không nghĩ đến việc ganh tị với người geisha. Bây giờ tôi đã hiểu điều mà tôi không nhận thấy, tôi phải là geisha. Bây giờ tôi thấy điều này như là con đường dẫn đến một cái gì đấy. Nếu tôi nghĩ đúng về tuổi của ông Chủ tịch, thì có lẽ ông ta không quá 45. Nhiều geisha thành công rực rỡ vào tuổi 20, cô geisha Izuko có lẽ không quá 25. Tôi còn bé, gần 12…nhưng trong 12 năm nữa, tôi sẽ 24 tuổi. Và khi ấy ông Chủ tịch được bao nhiêu? Chắc lúc ấy ông không già hơn ông Tanaka bây giờ.
Đồng bạc ông ta cho tôi uống một ly xirô không hết. Người bán hàng rong thối lại cho tôi ba đồng bạc loại khác. Thoạt tiên tôi định cất lại, để khi khác dùng, nhưng bỗng tôi nghĩ cách để dùng chúng vào việc quan trọng hơn.
Tôi ra đại lộ Shijo, đi về cuối đường nằm ở phía Nam của Gion, ở đấy có một ngôi đền thờ thần. Tôi bước lên bậc thềm, lòng quá lo sợ không dám bước dưới chiếc cổng đền xây hai tầng có mái đầu hồi, nhưng tôi cũng cứ đi. Qua một cái sân rải sỏi đi lên những bậc cấp khác, tôi đi qua cổng chính vào đền. Tôi đến thùng pháp sương ném mấy đồng bạc còn lại vào thùng – số tiền tôi có thể dùng để trốn khỏi Gion – và chắp tay vái ba lần trước các tượng thần, báo với các ngài tôi đến đây để cầu nguyện. Mắt nhắm nghiền, hai tay chắp vào nhau, tôi cầu nguyện thần phò hộ cho tôi trở thành geisha. Tôi nguyện sẽ cố gắng khổ luyện, chịu đựng gian nan, để có cơ may lôi cuốn được sự chú ý của một người như ông Chủ tịch.
Khi tôi mở mắt ra, tôi nghe tiếng xe cộ chạy trên đại lộ Higashi Oji, gió vẫn thổi rì rào trong hàng cây. Không có gì thay đổi. Còn việc thần linh có nghe tôi cầu nguyện hay không, tôi không biết. Tôi nhét cái khăn của ông Chủ tịch vào trong áo, mang theo về nhà kỹ nữ.                    

 

Đời kỹ nữChương 10

 

Mấy tháng sau, vào một buổi sáng, trong khi chúng tôi thay áo lót lụa mỏng mặc khi trời nóng bằng loại áo lót dày hơn cho mùa đông, bỗng tôi ngửi thấy mùi khét rất khó chịu bay ra tận ngõ vào, tôi vội thả cả đống áo quần trên tay xuống. Mùi khét từ phòng Bà Ngoại bay ra. Tôi chạy lên lầu tìm bà Dì vì tôi biết ngay đã có chuyện không ổn xảy ra. Bà Dì ba chân bốn cẳng chạy xuống, phát hiện ra Bà Ngoại nằm chết trên nền nhà, chết với tư thế rất kỳ cục.
Trong nhà chỉ có Bà Ngoại mới có lò sưởi điện. Đêm nào bà cũng dùng, ngoại trừ mùa hè. Bây giờ là tháng 9, chúng tôi đã thay áo lót mặc mùa hè, cho nên bà dùng lò sưởi lại. Nói thế không có nghĩa là trời đã lạnh, chúng tôi thay áo mỏng mặc áo dày theo lịch chứ không phải theo thời tiết ngoài trời, và Bà Ngoại cũng dùng lò sưởi như thế. Bà đã dựa vào lịch mà làm một cách phi lý, có lẽ vì trước đây bà đã chịu lạnh khổ sở rất nhiều rồi.
Bà Ngoại có thói quen là sáng nào cũng vấn sợi dây điện quanh lò rồi đẩy lò vào sát vách. Nhiều lần như thế khiến cho hơi nóng của lò làm cháy phần bọc ngoài của dây điện, để thòi dây đồng ở trong ra, cho nên khi sờ vào dây sẽ bị điện giật.
Cảnh sát cho biết sáng ấy khi bà đụng vào sợi dây điện, bà bị điện giật chết ngay tức khắc. Khi bà nhào xuống nền nhà, mặt bà úp lên mặt kim loại nóng bỏng. Vì thế mới có mùi khét lẹt như thế. May cho tôi là tôi không thấy bà sau khi bà chết, ngoại trừ hai cái chân. Tôi đứng ngoại cửa nhìn vào chỉ thấy hai chân bà khẳng khiu bọc trong tấm lụa nhăn nhúm.
Sau khi Bà Ngoại mất được hai tuần, chúng tôi rất bận rộn, không những vì phải lau chùi nhà cửa cho thật sạch – vì theo đạo thờ thần linh, thì tử khí là mùi ô uế nhất trong tất cả các mùi hôi – mà còn chuẩn bị nhà cửa để tiếp khách đến viếng. Chúng tôi phải sắp xếp các đèn cầy, khay cúng cơm, treo lồng đèn ngòai cổng, bàn uống trà, khay để tiền do khách phúng điếu và đủ thứ việc lặt vặt khác. Chúng tôi quá bận rộn đến nỗi một buổi tối bà đầu bếp ngã bệnh, phải mời bác sĩ đến, nhưng thật ra bà ta ngã bệnh là vì đêm trước bà ta ngủ không quá hai giờ, cả ngày thì đứng, và ăn chỉ một tô cháo trắng. Tôi cũng rất ngạc nhiên là Mẹ chi tiền không tiếc để đền Chion tổ chức tụng kinh cầu siêu cho Bà Ngoại và mua những bình sen của người lo tống táng – những việc quá tốn kém trong thời buổi đại suy thoái. Mới đầu tôi tự hỏi phải chăng Bà Ngoại là người quá đạo hạnh khiến cho Mẹ phải đau xót như thế, nhưng về sau tôi mới nhận ra như thế này: sẽ có nhiều người ở Gion sẽ đến nhà chúng tôi để phúng điếu Bà Ngoại, rồi sau đó sẽ đến dự lễ ma chay ở đền. Mẹ phải tỏ ra mình là người trọng lễ nghĩa.
Suốt mấy ngày, tất cả mọi người ở Gion đều đến nhà của chúng tôi, hay hình như thế thì phải. Chúng tôi phải dọn trà bánh cho mọi người dùng. Mẹ và Dì tiếp đón các bà chủ của các phòng trà và nhà dạy kỹ nữ, cũng như đón một số người giúp việc có quen biết với Bà Ngoại, họ lại còn tiếp các chủ tiệm buôn, những người làm tóc giả và thợ uốn tóc, hầu hết những người này đều là đàn ông, và dĩ nhiên họ đón rất nhiều geisha. Những geisha lớn tuổi thì biết Bà Ngọai từ thời bà còn hành nghề geisha, nhưng những geisha còn trẻ thì chưa bao giờ nghe nói đến bà, họ đến là để tỏ lòng tôn kính với Mẹ – hay có những người đến là vì họ có liên hệ này nọ với Hatsumono.
Công việc của tôi trong những ngày bận rộn này là mời khách vào phòng khách, nơi đây Mẹ và Dì đang ngồi đợi. Khoảng cách từ cửa cho đến phòng khách chỉ có vài bước thôi, nhưng khách không thể vào phòng một cách dễ dàng, và ngoài ra, tôi phải nhớ kỹ giày nào là của ai, vì tôi có bổn phận mang giày họ vào để trong phòng gia nhân cho rộng chỗ ở trước cửa, và đên khi họ về tôi phải mang ra cho họ. Thoạt tiên tôi rất khó nhớ. Tôi không được nhìn thẳng vào mặt khách vì như thế là vô phép vô tắc, nhưng chỉ nhìn sơ qua thôi, tôi khó mà nhớ cho được. Cho nên cuối cùng, tôi phải nhìn kỹ vào áo kimono để nhớ.
Khoảng vào chiều hôm thứ hai hay thứ ba của lễ tang, tôi thấy một chiếc kimono xuất hiện trên ngưỡng cửa, chiếc kimono làm tôi ngơ ngác vì nó quá đẹp, đẹp nhất trong số khách đên viếng. Chiếc áo có màu tối vì người mặc đến dự lễ tang – nền vải màu đen – nhưng các hình trang trí trên áo có màu lục và màu vàng bao quanh lai áo và tà áo, khiến cho cái áo trông rất đẹp. Tôi nghĩ nếu các bà các cô, vợ con của ngư phủ ở làng Yoroido, trông thấy, chắc họ sẽ hết sức kinh ngạc. Người khách có mang theo một cô hầu khiến tôi nghĩ bà ta chắc là chủ phòng trà hay chủ một nhà kỹ nữ nào đó, vì rất ít cô nàng geisha nào bỏ ra nhiều tiền để mua người hầu như thế. Trong khi cô ta nhìn vào bàn thờ thần ở cửa ra vào, tôi chợt nghĩ đến bức tranh cuốn treo trong phòng bà Dì, trên bức tranh vẽ hình người kỹ nữ bằng mực Tàu từ thời Hán cách đây một ngàn năm. Cô ta không sắc sảo như Hatsumono nhưng nét mặt cô ta trông hoàn hảo đến nỗi không thể nào chê vào đâu được. Và bỗng nhiên tôi nhận ra cô ta là ai.
Chính là Mameha, nàng geisha có chiếc kimono mà Hatsumono đã ra lệnh cho tôi làm hỏng.
Việc làm hỏng chiếc kimono của cô ta không phải lỗi của tôi, thế nhưng tôi vẫn muốn độn thổ để cô ta khỏi trông thấy mình. Tôi cúi đầu thật thấp khi mời cô và người hầu vào phòng khách. Tôi nghĩ chắc cô ta không nhận ra tôi, vì khi tôi đem áo trả cho cô, cô không nhìn thấy mặt tôi, mà cho dù cô ta có thấy đi nữa, thì thời gian trôi qua đã hai năm rồi. Người giúp việc theo hầu cô ta bây giờ không giống cô gái lấy áo kimono vào đêm ấy, và hơn nữa khi ấy cô ta đầy nước mắt. Khi cúi chào họ ở phòng khách để đi lui ra ngoài, tôi thấy lòng nhẹ nhõm.
Hai mươi phút sau, khi Mameha và chị hầu chuẩn bị ra về, tôi tìm giày của họ, sắp trước cửa vào, đầu vẫn cúi thấp, và lòng lo sợ như hồi nãy. Khi chị hầu kéo cửa mở ra, tôi cảm thấy điều lo sợ đã qua. Nhưng thay vì đi ra, Mameha cứ đứng ở cửa. Tôi bắt đầu lo. Tôi sợ trí óc của tôi không điều khiển được cặp mắt, vì mặc dù tôi không muốn ngước lên nhìn mà cặp mắt vẫn tự động ngước lên. Tôi hoảng khi thấy Mameha đang nhìn tôi.
– Này bé, em tên gì? – Cô ta hỏi, với giọng nói mà tôi cho là rất nghiêm nghị.
Tôi nói cho cô ta biết tôi tên Chiyo.
– Đứng lên một lát xem nào, Chiyo. Tôi muốn xem em cho biết.
Tôi đứng dậy theo lời cô ta yêu cầu nhưng mà giá tôi có tài biến hóa để biến mất, tôi sẽ làm ngay.
– Đứng yên, tôi muốn xem em một lát – cô ta lại nói – Em làm gì như đứng không vững thế?
Tôi ngẩng đầu lên, nhưng không ngước mắt. Khiến cho Mameha thở dài, biểu tôi ngước mắt nhìn cô ta.
– Cặp mắt tuyệt quá! – Cô ta thốt lên – Tôi mơ có cặp mắt như thế này quá! Này Tatsumi, cô gọi màu mắt này là màu gì?
Chị hầu quay vào trong cửa, nhìn tôi và đáp:
– Thưa cô, màu xanh xám.
– Tôi cũng thấy thế. Này, cô biết có bao nhiêu con gái ở Gion này có cặp mắt như thế này?
Tôi không biết Mameha nói với tôi hay với Tatsumi, nhưng không ai trả lời. Cô nhìn tôi, nét mặt rất kỳ lạ – chú ý tập trung vào cái gì đấy trên mặt tôi. Rồi cô ta chào ra về, và tôi thấy nhẹ cả người.
Lễ an táng Bà Ngọai được tổ chức va khoảng tuần sau, thầy bói chọn giờ vào buổi sáng. Sau đó, chúng tôi thu dọn nhà cửa lại cho ngăn nắp, nhưng có nhiều thay đổi, bà Dì chuyển xuống ở tại phòng Bà Ngọai, còn Bi Ngô – bây giờ đã tập sự làm geisha khá lâu rồi – lên ở phòng bà Dì ở tầng hai. Nhà có thêm hai gia nhân mới, họ ở tuổi trung niên và rất khỏe mạnh. Kể ra thì Mẹ nuôi thêm người cũng lạ, nhưng nhà kỹ nữ mà người như thế này là ít, sở dĩ lâu nay ít là vì Bà Ngoại không chịu được cảnh đông đúc trong nhà.
Việc thay đổi cuối cùng là Bí Ngô được miễn làm những công việc lặt vặt. Cô ta được dành nhiều thì giờ để luyện tập những bộ môn mà geisha cần biết. Thường thường các cô không được dành nhiều thì giờ như thế, nhưng Bí Ngô học hành chậm chạp nên cô ta cần có thêm nhiều thời gian hơn. Thỉnh thoảng tôi nhìn cô ta quỳ trên hành lang gỗ tập đàn, cái lưỡi thè ra một bên mệng như muốn liếm cái má cho sạcn. Mỗi khi nhìn thấy nhau, cô ta mỉm cười với tôi một cách dịu hiền và tử tế. Thế nhưng tôi thấy khó mà chịu đựng sự kiên nhẫn trong cuộc sống, sự kiên nhẫn nặng trĩu, bắt ta đợi chờ cánh cửa tương lai mà mãi không hé mở, trông mong mãi một cơ may xảy đến. Nhiều đêm khi đi ngủ, tôi lấy chiếc khăn của ông Chủ tịch cho tôi, mở ra ngửi mùi phấn thơm. Tôi cố xua đuổi tất cả những hình bóng khác ra khỏi đầu óc, mà chỉ giữ lại hình ảnh của ông ta, giữ lại cảm giác nắng ấm trên mặt tôi và bức tường đá nơi tôi ngồi khi gặp ông ta. Ông ta là vị Bồ đề Đạt ma có ngàn tay sẽ giúp tôi. Tôi không tưởng tượng được sự giúp đỡ của ông ta sẽ ra như thế nào, nhưng tôi cầu nguyện sự giúp đỡ đó mau đến.
Sau ngày Bà Ngoại chết được một tháng, một hôm, chị giúp việc mới đến tìm tôi báo cho tôi biết có khách đứng đợi ngòai cửa. Hôm ấy là một buổi chiều tháng mười mà lại nóng thật kỳ la, người tôi nóng chảy mồ hôi ướt mèm, vì tôi dùng máy hút bụi quay tay để làm vệ sinh mấy chiếc chiếu cói trên phòng mới của Bí Ngô, cái phòng của bà Dì trước đây, Bí Ngô có thói quen ăn vụng bánh tráng ngô trên lầu, cho nên chiếu thảm phải làm vệ sinh luôn. Tôi lấy khăn ướt lau qua người rồi chạy xuống nhà dưới, thấy một thiếu nữ đứng ở trước cửa, mặc kimono gia nhân. Tôi quỳ xuống cúi chào chị ta. Chỉ khi tôi nhìn chị ta lần thứ hai, tôi mới nhận ra chị là người hầu thoe Mameha đến nhà chúng tôi mấy tuần trước đây. Thấy chị ta ra dấu cho tôi bước ra ngoài cửa, tôi bèn mang guốc vào, đi theo chị ta ra đường.
– Chiyo, thỉnh thoảng cô có đi làm những công việc lặt vặt ở ngoài không? – Chị ta hỏi.
Chuyện tôi bỏ trốn đã qua lâu rồi, cho nên tôi không bị nhốt trong nhà nữa. Tôi không biết tại sao chị ta lại hỏi thế, nhưng tôi cũng trả lời tôi có đi.
– Tốt – chị ta đáp –cô thu xếp để chiều mai đi ra ngoài làm việc lặt vặt lúc ba giờ và đến gặp tôi tại chiếc cầu vồng nhỏ bắc qua suối Karakawa.
– Thưa chị vâng – tôi đáp – nhưng xin phép hỏi chị lý do để làm gì ạ?
– Ngày mai sẽ biết, được không? – chị ta đáp, lỗ mũi hơi nhăn lại khiến cho tôi tự hỏi không biết có phải chị ta trêu chọc tôi hay không.
Tôi không mấy vui khi nghe chị hầu của Mameha yêu cầu tôi gặp chị ta,vì tôi nghĩ có lẽ chị ta gọi tôi đên đấy để cho Mameha mắng tôi vì việc tôi đã làm. Nhưng dù thế, ngày hôm sau tôi nói Bí Ngô sai tôi đi làm công việc ở ngoài, một công việc không cần phải gấp lắm. Cô ta sợ gặp chuyện rắc rối, nhưng sau khi nghe tôi hứa sẽ tìm cách trả ơn, cô ta liền bằng lòng. Vì thế vào khoảng ba giờ, cô ta gọi tôi:
– Chiyo ơi, làm ơn đi mua cho tôi vài sợi dây đàn và vài tạp chí viết về Kabuki được không? – Cô ta được lệnh phải đọc tạp chí về Kabuki để trau giồi kiến thức. Rồi tôi nghe giọng cô ta cất lên to hơn – Được không, thưa Dì?
Nhưng bà Dì không đáp vì bà đang ngủ trưa trên lầu.
Tôi ra khỏi nhà kỹ nữ, đi dọc theo suối Shirakawa đến cầu vồng bắc ngang qua khu vực Motoyoshi-cho, quận Gion. Vì thời tiết đẹp, ấm áp cho nên một số đàn ông sánh vai cùng các geisha đi dạo chơi, ngắm nhìn anh đào rũ ngọn xõa những chùm hoa xuống nước. Trong khi đứng đợi bên cầu, tôi ngắm nhìn một tốp du khách nước ngòai đến tham quan ngắm cảnh ở quận Gion nổi tiếng. Họ trông rất kỳ lạ, đàn bà thì mũi to, áo dài và tóc màu sáng, đàn ông thì quá cao và quá tự tin, đi giày có gót cao gõ lóc cóc trên vỉa hè. Một người đàn ông chỉ tôi cho những người khác thấy, ông ta nói tiếng ngọai quốc và tất cả những người khác quay qua nhìn tôi. Tôi cảm thấy luống cuống, giả vờ tìm kiếm cái gì dưới đất để che mặt đi.
Cuối cùng chị hầu của Mameha tới, và trong lúc tôi đang lo sợ, chị ta dẫn tôi đi qua cầu, dọc theo con suối đến đúng cổng nhà mà Hatsumono và Korin đưa chiếc kimono cho tôi và bảo tôi đi lên lầu. Thật bất công là sau một thời gian dài mà việc như thế này lại xảy đến cho tôi một lần nữa, gây cho tôi thêm nhiều phiền phức. Nhưng khi chị hầu đẩy cửa mở ra, tôi bước lên than lầu ánh sáng lờ mờ. Lên đến đầu cầu thang, chúng tôi tháo giầy ra và đi vào phòng.
– Thưa cô, Chiyo đã đến – chị hầu nói lớn.
Rồi tôi nghe tiếng Mameha từ phòng sau vọng ra:
– Tốt, cám ơn Tatsumi.
Chị hầu dẫn tôi đến chiếc bàn gần cửa sổ, tôi quỳ xuống trên một chiếc nệm và cố giữ vẻ bình tĩnh. Lát sau một cô hầu khác mang cho tôi một tách trà- thì ra Mameha có hai cô hầu chứ không phải một. Tôi không ngờ lại được chủ nhà mời trà như thế này. Chưa bao giờ có chuyện này xảy ra kể từ ngày tôi được mời ăn cơm ở nhà ông Tanaka cách đây mấy năm, tôi cúi người chào chị ta, uống vài hớp cho đúng phép xã giao. Sau đó tôi ngồi một hồi lâu không biết làm việc gì khác ngoài việc lắng nghe tiếng nước chảy róc rách từ các nguồn nước cao đổ xuống suối Shirakawa ở ngòai.
Căn hộ của Mameha không lớn nhưng cực kỳ sang trọng, thảm trải sàn rất đẹp và còn mới, chúng có màu vàng lục rực rỡ và thơm mùi rơm. Nếu anh đã nhìn kỹ một chiếc thảm rơm, chắc anh thấy quanh tấm thảm có viền vải, thường là bằng vải đen hay vải lanh đen, nhưng chiếu ở đây được viền bằng lụa có hoa văn màu lục và vàng. Trong một hốc tường gần đấy có treo một bức trướng chữ viết rất đẹp, đó là quà tặng cho Mameha của nhà thư pháp nổi tiếng Matsudaira Koichi. Dưới bức trướng, trên cái bệ trong hốc, những cành hoa hồng dại nở rộ được cắm trong cái dĩa cạn có hình lập thể màu đen tuyền.
Tôi thấy cái dĩa rất kỳ lạ , nhưng thực ra đấy là quà do Yoshida Sakuhei tặng cho Mameha, ông ta là nhà chế tạo gốm sứ theo trường phái Seteguro vĩ đại, tác phẩm này sau chiến tranh thế giới lần thứ hai trở thành tài sản quý báu của quốc gia.
Cuối cùng Mameha từ phòng sau bước ra, mặc chiếc áo kimono kem có hình vẽ ở lai áo rất đẹp. Trong khi cô ta đi đến bàn, tôi quay người, cúi chào thật thấp, rồi khi đến bàn, cô ta quỳ đối diện với tôi, uống một hớp trà do chị hầu mới bưng ra, rồi cô nói:
– Nào..Chiyo? Tại sao cô không nói cho tôi biết chiều nay làm sao cô rời được nhà kỹ nữ? Tôi chắc bà Nitta không thích gia nhân đi làm công việc riêng vào giữa ngày như thế này.
Thật tôi không ngờ cô ta hỏi như thế. Tôi không biết nói sao, mặc dù tôi biết không trả lời rất cù lần. Mameha nhấp trà, nhìn tôi với vẻ mặt nhân ái trên khuôn mặt trái xoan hòan hảo. Cuối cùng cô ta nói:
– Chắc cô nghĩ tôi sẽ mắng cô chứ gì. Nhưng tôi chỉ muốn biết việc cô đến đây có gặp phải chuyện gì rắc rối không.
Tôi nhẹ người khi nghe cô ta nói thế. Tôi đáp:
– Thưa cô không. Tôi được sai đi mua tạp chí Kabuki và dây đàn Shamisen.
– Ồ tốt, tôi có nhiều các thứ ấy – cô ta nói, rồi gọi chị hầu bảo đi lấy một ít các thứ ấy đem đến để trước mặt tôi trên bàn – Khi cô về nhà, cô cứ việc đem về và không ai biết cô đi đâu. Bây giờ cho tôi biết vài chuyện nhé. Khi tôi đến nhà kỹ nữ của cô để phúng điếu, tôi có thấy một cô gái bằng tuổi cô.
– Chắc là Bí Ngô đấy. Có phải cái cô mặt tròn không?
Mameha hỏi tôi tại sao gọi cô ta là Bí Ngô, tôi giải thích cho cô nghe. Nghe xong cô ta bật cười.
– Cô Bí Ngô này, cô ta và Hatsumono sống với nhau ra sao?
– Thưa cô, theo tôi thì Hatsumono xem Bí Ngô chẳng hơn gì cái lá phất phơ ngoài kia.
– Có phải Hatsumono cũng đối xử với cô như thế không?
Tôi mở miệng định nói, nhưng tôi không biết nói gì. Tôi biết về Mameha rất ít, bây giờ nói xấu Hatsumono cho người ngoài nghe thì quả không đúng đắn. Mameha hình như hiểu được tâm trạng của tôi, vì cô nói:
– Cô khỏi cần trả lời. Tôi biết Hatsumono đối xử với cô ra sao rồi, đối xử như con rắn trước miếng mồi, tôi nghĩ như thế đấy.
– Xin phép hỏi cô, ai nói với cô như thế ạ?
– Không ai nói với tôi hết – cô ta đáp – Hatsumono và tôi biết nhau từ khi tôi lên sáu và cô ta lên chín. Khi người ta nhìn một sinh vật có tính xấu trong một thời gian dài như thế, thì chuyện biết sinh vật ấy hành động như thế nào không còn là chuyện lạ lùng khó hiểu.
– Tôi không biết tôi đã làm gì khiến cho cô ta ghét tôi như thế.
– Dễ hiểu Hatsumono như dễ hiểu con mèo thôi. Con mèo thấy sung sướng nằm phơi nắng ngoài sân khi không có những con mèo khác bên cạnh. Nhưng nếu nó thấy có những con mèo khác chọc mũi vào đĩa thức ăn của nó…Đã có ai kể cho cô nghe chuyện Hatsumono xua đuổi cô Hatsuoki ra khỏi quận Gion chưa?
Tôi bảo chưa nghe ai nói hết.
– Hatsuoki là một cô gái rất xinh đẹp – Mameha kể – cô ta là bạn thân của tôi. Cô ta và Hatsumono là chị em. Nghĩa là hai người được cùng một geisha huấn luyện, người geisha nổi tiếng này là Tomihatsu, khi ấy bà đã già rồi. Hatsumono không ưa Hatsuoki, khi hai người tập sự làm geisha, cô ta không chịu được việc để cho Hatsuoki làm đối thủ của mình. Cho nên cô ta phao tin khắp Gion rằng có người đã thấy Hatsuoki làm chuyện đồi bại với một cảnh sát. Dĩ nhiên chuyện này không có thực. Nếu Hatsumono đi khắp Gion để kể chuyện này thì chẳng ai tin. Ai cũng biết Hatsumono ghen tị với Hatsuoki. Cho nên cô ta đã làm như thế này, bất cứ khi nào cô ta gặp một người quá say – một geisha hay là một người hầu, hay bất kỳ một người đàn ông nào đến thăm Gion, người nào cũng được – cô ta đều rỉ tai câu chuyện bịa về Hatsuoki cho họ nghe để ngày hôm sau người nghe không nhớ ra Hatsumono là người kể. Chẳng bao lâu sau, cô Hatsuoki tội nghiệp bị mang tiếng xấu, và Hatsumono chỉ cần sử dụng một vài mẹo vặt nữa thôi là loại được Hatsuoki.
Tôi cảm thấy nhẹ người khi nghe có người khác nữa ngoài tôi đã bị Hatsumono đối xử quá dã man như thế.
– Cô ta không chịu được cảnh có đối thủ – Mameha nói tiếp – đấy là lý do cô ta đối xử với cô như thế đấy.
– Thưa cô, chắc Hatsumono không xem tôi là một đối thủ. Tôi không phải là đối thủ của cô ấy như vũng nước không thể là đối thủ của đại dương.
– Trong các phòng trà ở Gion thì có lẽ không. Nhưng trong nhà dạy kỹ nữ của cô thì…cô không lấy làm lạ tại sao bà Nitta không nhận Hatsumono làm con sao? Nhà kỹ nữ Nitta hẳn là nhà giàu nhất ở Gion không có người thừa kế. Khi nhận Hatsumono làm con, không những bà Nitta giải quyết được vấn đề khó khăn này, mà bà ta còn giữ hết của cải của Hatsumono cho nhà dạy kỹ nữ, không cho Hatsumono một đồng ten nào, mà Hatsumono là một geisha rất thành công! Chắc cô nghĩ là bà Nitta, người ham tiền như những người khác, muốn nhận cô ta làm con từ lâu rồi. Hẳn phải có lý do gì đấy chính đáng bà ta mới không làm thế, cô không thấy thế hay sao?
Trước đây chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện này, nhưng sau khi nghe Mameha nói, tôi cảm thấy tôi đã hiểu ra lý do. Tôi đáp:
– Nhận Hatsumono làm con chẳng khác nào thả con hổ ra khỏi chuồng.
– Chắc đúng thế. Tôi nghĩ bà Nitta biết rõ việc nhận Hatsumono làm con sẽ dẫn bà ta đến đâu, thế nào cô ta cũng tìm cách loại bà mẹ ra. Nhưng dù sao, Hatsumono cũng là kẻ thiếu kiên nhẫn. Tôi không tin cô ta có thể nuôi một con dế trong lồng mây. Sau một vài năm, có thể cô ta sẽ bán số kimono của nhà kỹ nữ rồi rút lui. Cô Chiyo, đấy là lý do Hatsumono ghét cay ghét đắng cô. Còn cô Bí Ngô, tôi không tin là Hatsumono sợ bà Nitta nhận cô ta làm con.
– Cô Mameha, chắc cô còn nhớ cái kimono của cô bị làm hỏng…
– Chắc cô sẽ nói cô là người làm vấy mực lên áo.
– Dạ phải, thưa cô. Mặc dù tôi biết cô thừa hiểu Hatsumono âm mưu việc này, nhưng tôi cứ hy vọng có ngày tôi sẽ xin lỗi cô vì việc ấy.
Mameha nhìn tôi một hồi lâu. Tôi không biết cô ta nghĩ gì, nhưng cuối cùng cô ta nói:
– Nếu cô muốn thì cứ xin lỗi đi.
Tôi xích lui khỏi cái bàn rồi cúi người xuống thật thấp tận chiếu, nhưng trước khi tôi nói lên lời xin lỗi, Mameha liền chặn tôi lại. Cô ta nói:
– Giá cô là một nông dân đến thăm Kyoto thì cúi người chào như thế là quá đẹp. Nhưng vì cô muốn trở thành người có giáo dục, cô phải làm như thế này này. Hãy nhìn tôi này, xích lui xa cái bàn thêm chút nữa. Được rồi, quỳ xuống đấy, bây giờ thẳng hai tay ra và để đầu ngón tay lên chiếu ở trước mặt cô. Chỉ đầu ngón tay thôi, không cả bàn tay. Cô đừng xòe ngón tay ra, tôi còn thấy khoảng hở giữa mấy ngón. Tốt, để lên chiếu…hai tay…đấy. Giờ thì đẹp rồi. Cúi người thật thấp, nhưng giữ cổ cho thật thẳng, đừng để đầu gục xuống như thế. Trời đất ơi, đừng đè lên hai tay, nếu không cô sẽ giống đàn ông! Thế là tốt. Bây giờ cô hãy làm lại xem.
Tôi cúi chào cô ta như thế một lần nữa, và nói là tôi rất ân hận vì đã góp phần làm hỏng chiếc áo kimono đẹp của cô.
– Áo kimono ấy đẹp phải không? Thôi, bây giờ ta quên chuyện ấy đi. Tôi muốn biết tại sao cô không tập luyện thành geisha nữa. các giáo viên đều nói cô học hành rất giỏi, rồi bỗng nhiên cô bỏ học. Đúng ra cô phải học tiếp để có sự nghiệp rạng rỡ ở Gion mới đúng. Tại sao bà Nitta không cho cô học tiếp?
Tôi kể cho cô nghe chuyện nợ nần của tôi, kể cả nợ cái áo kimono và chiếc ghim hoa mà Hatsumono vu cho tôi lấy. Sau khi nghe tôi kể xong, cô ta nhìn mãi tôi một lát mới nói:
– Cô chưa kể hết cho tôi nghe chuyện của cô. Căn cứ vào số nợ của cô, tôi nghĩ bà Nitta rất mong muốn cô trở thành geisha. Làm người hầu chắc không bao giờ cô trả hết nợ cho bà ấy.
Khi nghe thế, tự dưng tôi cụp mắt nhìn xuống vì cảm thấy xấu hổ, Mameha có vẻ như hiểu được ý nghĩ trong đầu óc tôi, cô hỏi:
– Có phải cô đã tìm cách chạy trốn không?
– Phải , thưa cô – tôi đáp – tôi có người chị, chúng tôi bị sống cách biệt nhau nhưng chúng tôi cố tìm cách gặp nhau. Chúng tôi hẹn nhau vào một đêm để cùng chạy trốn…nhưng tôi bị rớt từ trên mái nhà xuống gẫy tay.
– Từ mái nhà! Chắc cô nói đùa! Có phải cô leo lên mái nhà để nhìn Kyoto cho được bao quát không?
Tôi giải thích cho cô ta nghe tại sao tôi làm thế, rồi tôi nói tiếp:
– Tôi nghĩ tôi thật điên khùng, bây giờ Mẹ không đầu tư xu nào vào việc học tập của tôi vì bà sợ tôi lại bỏ trốn một lần nữa.
– Còn lắm chuyện đáng lo hơn thế nữa. Một cô gái chạy trốn làm bà chủ nhà mang tiếng xấu. Dân ở Gion sẽ nghĩ như thế này “Trời đất, mụ ấy làm gì mà để tôi tớ trong nhà bỏ trốn hết!” Thế đấy, đại loại là như vậy. Nhưng Chiyo này, bây giờ cô tính sao? Tôi thấy hình như cô không muốn làm cô hầu suốt đời.
– Ồ thưa cô, tôi muốn làm gì để chuộc lại lỗi lầm của mình. Đã hơn hai năm trôi qua rồi, tôi kiên nhẫn chờ đợi cơ hội mở ra cho tôi, và tôi hy vọng cơ hội sẽ đến.
– Kiên nhẫn đợi chờ không hợp với cô đâu. Tôi thấy cô là người có mạng thủy, mà nước không bao giờ chờ đợi. Nó biến dạng, chảy khắp nơi, tìm những xó xỉnh không ai ngờ để chảy tới. Nó tìm cái lỗ tí ti trên mái nhà hay dưới đáy thùng để chảy qua. Nước là yếu tố đa năng nhất trong ngũ hành, rõ ràng như vậy. Nó cuốn đất đi, dập tắt lửa, làm cho sắt rỉ và mục ra. Ngay cả gỗ, là yếu tố quan trọng trong ngũ hành, cũng không thể sống được nếu không có nước mang thức ăn đến cho nó. Thế mà cô không biết lợi dụng sức mạnh ấy trong cuộc đời ư?
– Thưa cô, có chứ. Chính hình ảnh nước chảy đã làm tôi nảy ra ý định trốn thoát qua mái nhà.
– Tôi biết cô thông minh lanh lợi, Chiyo à, nhưng tôi nghĩ hành động ấy không được thông minh lắm. Những người có mạng thủy không phải muốn chảy đi đâu thì chảy, mà chúng ta phải chảy theo dòng đời chúng ta đang sống.
– Tôi thấy tôi là con sông chảy vấp phải con đê, và con đê ấy chính là Hatsumono.
– Phải, đúng thế đấy – cô ta đáp, nhìn tôi một cách bình tĩnh – nhưng có lúc sông phải đẩy con đê văng đi.
Ngay từ khi tôi mới đến nhà cô ta, tôi tự hỏi không biết cô ta gọi tôi đến làm gì. Tôi cứ nghĩ bụng, chắc là chuyện chiếc áo kimono, nhưng bấy giờ tôi thấy không phải chuyện ấy mà là có chuyện gì khác. Chắc Mameha có ý định dùng tôi để trả thù Hatsumono. Tôi thấy rõ ràng hai người kình địch nhau, tại sao Hatsumono làm hỏng chiếc kimono của Mameha cách đây hai năm. Rõ ràng Mameha chờ đợi đến lúc thích hợp để trả thù, và bây giờ cô ta đã tìm ra đúng lúc. Cô ta sẽ dùng tôi đóng vai cây sậy lấn át những cây khác ra khỏi vườn. Cô ta không chỉ trả thù không thôi đâu, nếu tôi không lầm thì cô ta muốn loại hẳn Hatsumono.
– Nhưng dù sao – Mameha nói tiếp – nếu bà Nitta không để cho cô tiếp tục học tập thì chẳng có gì thay đổi.
– Tôi không mấy hy vọng thuyết phục được bà.
– Bây giờ cô đừng lo vấn đề thuyết phục, cô hãy lo tìm được đúng lúc thích hợp để làm việc ấy.
Tôi đã học được nhiều bài học ở trường đời, nhưng tôi không biết kiên nhẫn – thậm chí không đủ kiên nhẫn để tìm hiểu câu nói “tìm được đúng lúc thích hợp” của Mameha có ý nghĩa gì. Tôi nói với cô rằng nếu cô giúp tôi ý kiến để nói, thì ngày mai tôi sẽ nói với Mẹ.
– Chiyo này, ở đời mà làm việc tùy tiện sẽ không thành công. Làm việc gì cô cũng phải biết cách tìm cho đúng lúc thích hợp và nơi thích hợp. Con chuột muốn chọc tức con mèo không phải lúc nào muốn chạy ra khỏi hang thì chạy. Cô có biết cách tra cứu niên lịch không?
Tôi không biết anh đã thấy cuốn niên lịch bao giờ chưa. Mở cuốn lịch ra, lật từng trang người ta sẽ tìm thấy nhiều biểu đồ phức tạp và nhiều câu tối nghĩa. Giới geisha rất mê tín, như tôi đã nói với anh rồi. Bà Dì và bà Mẹ, ngay cả bà nấu bếp hay người giúp việc, hiếm khi làm việc gì mà không mở lịch ra xem ngày, cho dù chỉ để mua một đôi giày thôi. Nhưng tôi không bao giờ tra cứu lịch.
– Thảo nào mà cô gặp toàn chuyện không may – Mameha nói – Có phải cô chạy trốn mà không xem ngày tốt không?
Tôi nói cho cô biết chị tôi quyết định ngày ra đi khi nào chúng tôi đi được. Mameha muốn biết ngày tôi chạy trốn, tôi cho cô ta biết đó là thứ ba tuần cuối của tháng 10 năm 1929, chỉ có mấy tháng sau ngày Satsu và tôi bị lôi ra khỏi nhà.
Mameha sai chị hầu lấy cuốn niên lịch ra, sau khi hỏi tuổi tôi – tuổi thân – cô ta xem kỹ các biểu đồ rồi đọc cả một trang sách nói về công việc khái quát trong tháng. Cuối cùng cô ta đọc:
– Thời điểm thất lợi nhất. Phải tuyệt đối tránh kim, thức ăn lạ và đi xa. – đến đây cô ta dừng lại để nhìn tôi – Đi xa! Cô nghe không. Ngoài ra lịch còn cho biết cô phải tránh các thứ sau đây nữa; “tắm vào giờ Dậu”, “đổi áo mới ”, “thành lập cơ sở mới ”, và hãy nghe câu này này “đổi nơi cư trú” – đọc đến đây Mameha gấp sách lại nhìn tôi – cô có lưu tâm đến những chuyện như thế này không?
Nhiều người không tin chuyện bói toán như thế này, nhưng nếu khi ấy anh có mặt ở đấy để chứng kiến cảnh xảy ra tiếp theo, tôi chắc lòng nghi ngờ của anh sẽ tiêu tan ngay. Mameha hỏi tuổi của chị tôi và tra cứu lịch để xem vận mạng cho chị ấy. Xem một lát, cô ta nói:
– Đây nhé, sách có nói “ngày tốt, có thể chuyển dịch tí chút”, có lẽ không phải là một ngày tốt để làm việc động trời như là chạy trốn, nhưng cũng là ngày tốt hơn so với các ngày khác trong tuần hay là tuần tới. Và còn điều này nữa mới đáng ngạc nhiên, sách còn nói “ngày tốt để di chuyển theo hướng Hoàng đạo”. Mameha đọc xong, cô ta lấy bản đồ, tìm làng Yoroido, làng nằm ở phía Đông Bắc Kyoto, hướng này quả là hướng Hoàng đạo. Satsu có tra cứu niên lịch. Chị ấy có lẽ tra cứu niên lịch để xem ngày ra đi lúc để tôi ngồi một mình trong phòng dưới chân cầu thang ở nhà thổ Tatsuyo. Và có lẽ chị đã làm đúng: chị trốn được còn tôi thì không.
Chính lúc ấy tôi mới hiểu ra – tôi dốt nát làm sao! Không những trong kế họach chạy trốn mà còn trong tất cả mọi thứ khác nữa. Tôi không hiểu mọi vật trên đời này có liên quan mật thiết với nhau. Không phải chỉ theo đúng hướng Hoàng đạo như tôi vừa đề cập mà thôi. Con người chúng ta chỉ là một phần tử trong một thực thể to lơn hơn nhiều. Khi chúng ta đi, chúng ta có thể đạp nát một con bọ hay là gây xáo trộn không khí để cho một con ruồi không thể bay đến chỗ nó mong muốn. Nếu chúng ta lấy cái ví dụ đó để áp dụng cho chúng ta là sâu bọ, còn thế giới to lớn hơn là chúng ta thì rõ ràng những thế lực to lớn hơn chúng ta đã gây ảnh hưởng lên đời sống chúng ta rất dễ, chẳng khác nào chúng ta gây ảnh hưởng lên sâu bọ. Vậy chúng ta phải làm gì? Chúng ta phải dùng bất cứ phương pháp nào để hiểu được sự vận hành của vũ trụ quanh ta, hiểu được thời gian ta hành động, để ta khỏi chiến đấu chống lại dòng vận hành ấy mà chỉ theo chúng thôi.
Mameha lại mở lịch ra xem, lần này cô ta chọn nhiều ngày trong số những ngày tiếp theo để chọn ngày tốt dùng trong công việc. Tôi hỏi tôi có nên nói với bà Mẹ vào một trong những ngày đó không, và tôi nên nói ra sao cho đúng.
– Tôi không có ý định khuyên cô đích thân đi nói với bà Nitta – cô ta đáp – bà ta sẽ bác bỏ yêu cầu của cô ngay. Nếu tôi là bà ta, tôi cũng sẽ làm thế. Vì bà ta biết không có ai ở Gion muốn làm chị cả của cô hết.
Nghe cô ta nói, tôi rất buồn. Tôi hỏi :
– Cô Mameha,vậy thì tôi nên làm gì?
– Chiyo, cô nên về nhà kỹ nữ của cô thôi. Và đừng có nói cho ai biết việc tôi đã nói chuyện với cô.
Nói xong, cô ta nhìn tôi với ánh mắt khuyên tôi nên cúi chào xin phép ra về ngay, và tôi đã làm thế. Tôi rất hoang mang bối rối , đến nỗi khi ra về tôi quên lấy các tờ tạp chí Kabuki và mấy sợi dây đàn mà Mameha cho tôi. Người hầu của cô phải mang tất cả chạy ra đường đưa cho tôi.  

2 phản hồi

  1. Có phải câu chuyện này đã được dựng thành phim đúng ko?

    Like

  2. Hết phần 1

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: