Hy vọng táo bạo ( The audacity of hope ) của Barack Obama


 

Tôi được tận mắt thấy Nhà Trắng lần đầu tiên vào năm 1984. Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp đại học. Đó là một chuyến đi ngắn, tôi và các bạn sinh viên đi dạo đến công viên quốc gia và đài tưởng niệm Washington, sau đó chúng tôi dành vài phút ngắm Nhà Trắng. Tôi cảm thấy kinh ngạc, không phải trước những đường cong duyên dáng của tòa nhà, mà vì nó quá cởi mở trước sự ồn ào náo nhiệt của thành phố. Chúng tôi được đứng quá gần cổng vào, sau đó có thể đi vòng ra mặt sau tòa nhà để ngắm vườn hồng và khu nhà ở phía xa. Tôi nghĩ vị trí, tư thế cởi mở của tòa Nhà Trắng nói lên rằng vị lãnh đạo đất nước cũng không khác chúng ta bao nhiêu, họ cũng sống theo pháp luật và những giá trị chung của nước Mỹ.

20 năm sau, không dễ mà đến gần được Nhà Trắng nữa. Chốt kiểm soát, lực lượng bảo vệ có vũ trang, xe tải, gương, chó và các chướng ngại vật di động vây quanh bảo vệ Nhà Trắng trong phạm vi hai ngã tư đường. Ôtô không phận sự không được phép đi vào đại lộ Pennsylvania. Tôi thấy thoáng buồn trước những điều không còn nữa.

Barack Obama

 

 

Kỳ 1: Câu chuyện từ một cái tên

Tháng 7-2004, Barack Obama đã khuấy động đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ với bài phát biểu hướng đến mọi người dân Mỹ thuộc mọi nhóm chính trị trên cả nước. Đặc biệt có một cụm từ Barack Obama sử dụng đã để lại ấn tượng rất sâu sắc: tinh thần “táo bạo dám hi vọng”.

Năm 2006, khi đã trở thành thượng nghị sĩ Mỹ, Barack Obama viết cuốn sách Hi vọng táo bạo (The audacity of hope), lấy những câu chuyện của đời mình để thể hiện suy nghĩ về việc nước Mỹ phải làm gì để cùng nhau giải quyết những khó khăn của đất nước, tìm lại giấc mơ Mỹ. Tuổi Trẻ trích đăng một phần cuốn sách này.

Đã gần mười năm kể từ khi tôi bắt đầu bước chân vào hoạt động chính trị. Lúc đó tôi khoảng 35 tuổi, tốt nghiệp trường luật được bốn năm, vừa mới kết hôn và nhìn chung nóng vội với đời. Có một ghế trống trong nghị viện bang Illinois, một vài người bạn gợi ý tôi nên ra tranh cử. Họ cho rằng với nghề nghiệp là một luật sư về quyền công dân và những mối quan hệ tôi có được trong thời gian hoạt động cộng đồng, tôi sẽ là một ứng cử viên có triển vọng.

Tập tranh cử

Sau khi bàn bạc với Michelle – vợ tôi, tôi tham gia cuộc đua và làm đúng những gì mà một ứng viên lần đầu tiên tranh cử thường làm: nói chuyện với tất cả những ai lắng nghe tôi. Tôi đến những cuộc họp câu lạc bộ và các buổi gặp mặt của nhà thờ, các tiệm thẩm mỹ và cửa hàng cắt tóc. Chỉ cần thấy một “nhóm” hai người đứng ở góc phố là tôi sẵn sàng băng qua đường, đưa họ tờ rơi vận động tranh cử. Và đi đến đâu tôi cũng bị người ta hỏi cùng hai câu: “Anh đào đâu ra cái tên Barack Hussein Obama ngộ nghĩnh thế?”. Và rồi: “Trông anh cũng khá đàng hoàng, sao anh lại muốn nhảy vào một lĩnh vực bẩn thỉu và hiểm ác như chính trị?”.

Tôi đã quen với những câu hỏi này, chúng chỉ là dạng khác của những câu hỏi mà tôi nhận được vài năm trước đó khi lần đầu đến Chicago, làm việc ở một khu vực thu nhập thấp. Đó là sự hoài nghi của một thế hệ đã mất lòng tin vào những lời hứa, ít nhất là ở vùng phía nam nơi tôi đang cố gắng đại diện.

Tôi thường trả lời họ bằng cách mỉm cười, gật đầu và nói rằng tôi hiểu nỗi hoài nghi đó. Nhưng hiện nay, và nhất là trong quá khứ, luôn có một truyền thống khác về chính trị, một truyền thống đã tồn tại từ ngày lập nước cho đến ngày thắng lợi của phong trào đấu tranh cho quyền công dân, một truyền thống dựa trên một suy nghĩ giản dị rằng chúng ta phụ thuộc lẫn nhau, rằng những điều gắn kết chúng ta thật sự nhiều hơn, lớn hơn những điều chia rẽ chúng ta, và nếu có đủ người tin vào điều đó, hành động vì điều đó, thì mặc dù chúng ta chưa thể giải quyết được hết mọi khó khăn nhưng sẽ làm được điều gì đó có ý nghĩa. Quả là một bài diễn văn thuyết phục, tôi nghĩ thế.

Và mặc dù không chắc lắm là tôi gây được ấn tượng như nhau cho mọi thính giả, nhưng cũng có đủ người đánh giá cao sự nhiệt tình và tự tin của tuổi trẻ ở tôi, nhờ thế tôi đã trúng cử vào nghị viện bang Illinois.

Barack Obama là người Mỹ gốc Phi đầu tiên làm chủ nhiệm tạp chí Harvard Law Review khi đang học tại Trường luật ĐH Harvard
Sáu năm sau tôi quyết định tranh cử thượng nghị sĩ Mỹ. Nhìn về mặt nào đó thì lựa chọn nghề nghiệp của tôi cũng có vẻ đúng. Sau hai nhiệm kỳ tôi nỗ lực làm việc ở phe thiểu số, Đảng Dân chủ cũng đã giành được quyền kiểm soát thượng viện bang và tiếp đó tôi đã thông qua một loạt dự luật, từ cải cách hệ thống án tử hình bang Illinois đến mở rộng chương trình y tế cho trẻ em. Tôi còn tiếp tục giảng dạy ở Đại học Luật Chicago, một công việc tôi yêu thích, và đôi khi tôi được mời đến nói chuyện vài nơi trong thành phố.

Lao vào cuộc đua với sinh lực và niềm vui

Nhưng trong những năm đó tôi cũng phải trả giá. Dù là lý do gì thì việc tôi quyết định chạy đua với một nghị sĩ Dân chủ đương nhiệm trong cuộc tranh cử vào hạ viện liên bang năm 2000 là một cuộc đua thiếu cân nhắc và tôi đã thua đau đớn – một loại thất bại đánh thức bạn trở lại với thực tế là cuộc sống không diễn ra như bạn chờ đợi.

Một năm rưỡi sau, khi vết thương đã lành, tôi có hẹn ăn trưa với một cố vấn truyền thông, người đã đôi lần khuyến khích tôi tranh cử cấp bang. Ngẫu nhiên bữa trưa đó được sắp xếp vào cuối tháng 9-2001. “Chắc anh thấy động lực chính trị bây giờ đã thay đổi đúng không?”, anh ta hỏi tôi khi lấy món salad. Tôi hỏi lại: “Ý anh là sao?”. Nhưng tôi biết rõ anh ta định nói gì. Cả hai chúng tôi đều nhìn vào tờ báo đặt cạnh anh ta.

Trên đó, ngay trang nhất là hình Osama Bin Laden. “Kinh khủng, đúng không? – anh ta lắc đầu – Thật xui quá. Tất nhiên anh không thể đổi tên được. Cử tri nghi ngờ ngay. Anh biết đấy, nếu anh mới bắt đầu sự nghiệp, anh có thể dùng một cái tên khác hay cái gì đó. Nhưng giờ thì…” – anh ta kéo dài giọng và nhún vai tỏ vẻ xin lỗi trước khi gọi người bồi bàn đem hóa đơn thanh toán.

Giấc mơ sẽ không thành hiện thực và giờ đây anh ta phải đối mặt với lựa chọn: chấp nhận sự thật như một người trưởng thành và chuyển sang theo đuổi một thứ khác thực tế hơn, hay từ chối nó và cuối cùng trở thành một kẻ cay đắng, cáu kỉnh và có một chút nào đó thảm hại. Tuy nhiên, tôi lại tập trung vào công việc trong thượng viện bang và tự hài lòng với những cải cách, những đề xuất mà tôi có thể làm được ở vị trí của mình. Và tôi nghĩ chính sự chấp nhận này khiến tôi có một ý nghĩ hết sức đường đột là tranh cử vào thượng viện liên bang.

Tôi mô tả với vợ tôi ý tưởng này như một chiến lược được ăn cả ngã về không, đây là nỗ lực cuối cùng để thử thực thi các ý tưởng của tôi trước khi tôi làm một người sống lặng lẽ hơn, ổn định hơn và có thu nhập cao hơn. Vợ tôi, có lẽ vì thương hại hơn là bị thuyết phục, đồng ý để tôi tham gia cuộc đua cuối cùng này. Tuy nhiên cô ấy cũng nói trước vì cô ấy muốn có một cuộc sống gia đình yên ả nên tôi không nên trông mong cô ấy sẽ bỏ phiếu cho tôi. Cô ấy để tôi thoải mái tự quyết định trong canh bạc rất chênh lệch này.

Vào thời điểm Peter Fitzgerald (nghị sĩ đương nhiệm Đảng Cộng hòa đã chi 19 triệu USD tài sản riêng của ông để giành ghế từ người tiền nhiệm) tuyên bố không dự định tái tranh cử, tôi đang có sáu đối thủ chính, trong số đó có một nữ chuyên gia y tế da đen, người mà với một số tiền sử dụng khôn ngoan sẽ chia phiếu của cộng đồng da đen với tôi và giết chết bất cứ cơ hội mong manh nào mà tôi có được.

Tôi không bận tâm. Tôi lao vào cuộc đua với sinh lực và niềm vui mà tôi nghĩ tôi đã đánh mất. Không có cỗ máy của tổ chức Đảng Dân chủ bang, đôi khi sau khi lái xe mất hàng giờ tôi chỉ thấy có hai hoặc ba người đang đợi mình quanh chiếc bàn làm bếp. Tôi phải trấn an chủ nhà là không sao, khen ngợi bánh trái mà họ đã chuẩn bị. Đôi khi tôi phải ngồi suốt một buổi lễ nhà thờ và mục sư thậm chí quên không nhận ra tôi. Nhưng bất kể tôi gặp hai người hay 50 người, bất kể mọi người tỏ ra thân thiện, bàng quan hay đôi khi có thái độ thù địch, tôi cố gắng hết sức để im lặng nghe những điều họ nói.

Tôi cảm thấy mình đang làm việc vất vả hơn bao giờ hết.

 

 

 

 

Kỳ 2: Không có nước Mỹ da đen hay da trắng


Tôi được mời phát biểu tại Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ năm 2004 ở Boston, từ lúc đó tôi bắt đầu được cả nước chú ý. Thật ra chuyện tại sao tôi được chọn làm người phát biểu chính cho đến giờ vẫn là điều khó hiểu với tôi.

Lần đầu tiên tôi gặp Thượng nghị sĩ John Kerry (ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân chủ năm đó) là sau kỳ bầu cử sơ bộ ở Illinois khi tôi đề cập tới những người vận động gây quỹ của ông và cùng ông đến dự một buổi vận động để nói về tầm quan trọng của các chương trình dạy nghề. Một buổi chiều, khi tôi đang từ Springfield quay về Chicago để tham dự một lễ vận động vào buổi tối thì người phụ trách chiến dịch vận động của Kerry gọi điện báo tin.

Điều tốt đẹp nhất của tinh thần Mỹ

Trước đó tôi mới tham dự Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ một lần, đó là đại hội năm 2000 ở Los Angeles. Tôi không định đi vì vừa thất bại trong cuộc tranh cử vào hạ viện liên bang. Tuy nhiên đến phút cuối, vài người bạn và người ủng hộ thuyết phục tôi đi cùng họ.

Họ bảo tôi: “Anh phải quen với mọi người trong cả nước, để còn tranh cử lần nữa – và dù sao thì đi cũng vui. Cuối cùng tôi cũng xiêu lòng và đặt vé máy bay đi L.A. Khi hạ cánh, tôi đi xe buýt đến một điểm cho thuê xe của Công ty Hertz. Tôi đưa cho người phụ nữ đứng sau quầy chiếc thẻ tín dụng American Express, sau vài phút người phụ nữ quay lại, nét mặt lộ vẻ bối rối: “Tôi rất tiếc, thưa ông Obama, nhưng thẻ của ông không được chấp nhận”.

Sau nửa giờ nói chuyện điện thoại, một người phụ trách ở American Express đã tử tế bảo lãnh cho tôi thuê xe. Nhưng đây mới là điềm báo đầu tiên của một loạt chuyện xảy ra sau đó. Vì không phải đại biểu nên tôi không có thẻ vào tòa nhà; theo chủ tịch Đảng Dân chủ Illinois thì ông bị nhiều người nhờ vả xin vào lắm nên ông chỉ có thể cho tôi thẻ ra vào khu vực diễn ra đại hội thôi. Thế là tôi phải xem hầu hết các bài phát biểu trên nhiều màn hình tivi, tòa nhà rõ ràng không dành cho tôi. Đến tối thứ ba, tôi nhận thấy sự có mặt của mình chả giúp ích cho bản thân cũng như cho Đảng Dân chủ nên sáng thứ tư tôi đáp chuyến bay đầu tiên trở về Chicago.

Cứ nghĩ tới chuyện lúc trước chỉ là một kẻ đứng ngoài cổng đại hội, giờ lại là người phát biểu chính, tôi không khỏi lo ngại mình sẽ gặp chuyện gì đó ở Boston. Vài ngày sau cú điện thoại, tôi trở về phòng khách sạn ở Springfield, viết ra giấy một số ý sơ lược cho bài phát biểu trong lúc ngồi xem bóng rổ trên tivi. Tôi liệt kê ra một danh sách những vấn đề có thể sẽ đề cập – y tế, giáo dục, chiến tranh ở Iraq. Nhưng tôi suy nghĩ nhiều hơn cả về tiếng nói của những người tôi đã gặp trên đường tranh cử.

Tôi nhớ đến Tim Wheeler và vợ ông ở Galesburg đang cố tìm cách làm thế nào để cậu con trai của họ được ghép gan. Tôi nhớ đến một thanh niên ở East Moline tên Seamus Ahern đang trên đường đến Iraq – khát khao muốn phục vụ đất nước của cậu, ánh nhìn tự hào và nét e ngại trên khuôn mặt bố cậu. Tôi nhớ đến một phụ nữ da đen trẻ tôi gặp ở East St. Louis – tôi không nhớ nổi tên cô – đã kể cô phải nỗ lực thế nào để đi học đại học trong khi cả nhà cô không ai tốt nghiệp được phổ thông.

Điều làm tôi xúc động không chỉ là nỗ lực, cố gắng của họ mà đó là vì họ có tinh thần quyết tâm, sự tự tin, lòng lạc quan vô tận trước khó khăn. Tôi nhớ đến những từ mà mục sư Jeremiah A. Wright Jr. đã từng nói trong một buổi thuyết giáo: sự táo bạo khi hi vọng.

Tôi nghĩ đó chính là điều tốt đẹp nhất của tinh thần Mỹ. Nó thể hiện khi chúng ta dám tin rằng một đất nước đang bị chia rẽ bởi mâu thuẫn sẽ tìm lại được tình cộng đồng cho dù mọi thứ đều chứng tỏ điều ngược lại, rằng chúng ta luôn nắm được – và do đó có trách nhiệm – vận mệnh của mình cho dù chúng ta có thể gặp thất bại, mất việc làm, bị đau ốm hay có tuổi thơ gian khó. Tôi nghĩ sự táo bạo đó đã giúp chúng ta kết thành một dân tộc. Tinh thần hi vọng lan tỏa đó đã giúp gia đình của riêng tôi gắn bó với nước Mỹ rộng lớn, và cuộc sống của riêng tôi gắn bó với cuộc sống của những cử tri đã bỏ phiếu cho tôi. Tôi tắt tivi và bắt tay vào viết.

Vẫn phải có lời cảnh báo

Khi tôi gặp ai đó lần đầu tiên, đôi khi họ trích lại một câu trong bài phát biểu của tôi hồi Đại hội toàn quốc Đảng Dân chủ năm 2004, nghe vang như một hợp âm: “Không có nước Mỹ da đen hay da trắng, nước Mỹ Latin hay châu Á – chỉ có một Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”.

Đối với họ, câu nói này chính là hình ảnh cuối cùng của nước Mỹ – một nước Mỹ đúng như cam kết của mục sư Martin Luther King rằng mọi người phán xét chúng ta không phải qua màu da mà qua tính cách.

Tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc tin rằng nước Mỹ sẽ như thế. Là con của một gia đình có bố da đen và mẹ da trắng, sinh ra ở một nơi toàn dân di cư đủ màu da ở Hawaii, có em gái mang nửa dòng máu là Indonesia nhưng thường bị nhầm là người Mexico hoặc Puerto Rico, có em rể và cháu gốc Trung Quốc, nên mỗi khi gia đình sum họp vào Giáng sinh thì không khác gì cuộc họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tôi chưa bao giờ phải chọn xem nên trung thành với màu da nào hay đánh giá giá trị bản thân qua màu da của mình.

Hơn nữa, tôi tin rằng một trong những nét đặc trưng của nước Mỹ là nó có khả năng chấp nhận thành viên mới, có thể tìm ra tính cách riêng của dân tộc từ đám đông hỗn loạn di cư đến bờ biển đất nước. Về chuyện này, chúng ta được cổ vũ bởi hiến pháp với ý tưởng cơ bản là dù chúng ta đã từng là nô lệ đi nữa thì chúng ta vẫn là các công dân được luật pháp đối xử công bằng, và bởi hệ thống kinh tế, hơn bất cứ hệ thống kinh tế ở nước nào khác, sẵn sàng tạo cơ hội cho tất cả mọi người bất kể vị trí xã hội.

Nhưng khi tôi nghe các nhà bình luận diễn giải câu nói đó của tôi thành chúng ta đã tiến tới một “nền chính trị hậu phân biệt chủng tộc” hay chúng ta đang sống trong một xã hội không phân biệt màu da, tôi thấy vẫn phải có lời cảnh báo.

Chúng ta đều biết kết quả thống kê: hầu như tất cả chỉ số kinh tế – xã hội, từ tỉ lệ sống của trẻ sơ sinh cho đến tuổi thọ trung bình, từ số người có việc làm đến số người sở hữu nhà riêng, cộng đồng người da đen và người Mỹ Latin đều bị tụt lại rất xa so với người da trắng.

Trong các ban lãnh đạo doanh nghiệp trên toàn nước Mỹ, nhóm người thiểu số có rất ít đại diện. Trong thượng viện liên bang, chỉ có ba người Mỹ gốc Latin và hai người Mỹ gốc Á (cả hai đều của bang Hawaii), và khi tôi viết những dòng chữ này thì tôi là thành viên người Mỹ gốc Phi duy nhất trong thượng viện. Nói rằng thái độ phân biệt chủng tộc không có vai trò trong sự chênh lệch này không khác gì nhìn vào lịch sử, nhìn vào quá khứ bằng con mắt mù quáng, và cũng như đang thoái thác trách nhiệm phải giải quyết vấn đề sao cho tốt đẹp hơn.

 

 

 

Kỳ 3: Hiện thân của giấc mơ Mỹ

Chủ yếu nhờ may mắn, tôi có một vị trí xã hội giúp tôi tránh được hầu hết những va chạm, những đau đớn mà một người da đen bình thường phải chịu đựng.

Tôi vẫn có thể nhắc lại những lần bị coi thường vụn vặt suốt 45 năm đời tôi: nhân viên bảo vệ theo dõi khi tôi đi mua sắm ở trung tâm thương mại, các cặp vợ chồng da trắng ném chìa khóa xe cho tôi khi tôi đứng bên ngoài nhà hàng đợi người phục vụ, xe cảnh sát áp sát xe tôi mà không có lý do rõ ràng… Tôi biết cảm giác thế nào khi bị mọi người nói rằng tôi không làm được điều gì đó vì tôi là người da đen và tôi biết vị đắng khi phải nuốt cơn giận. Tôi cũng biết Michelle và tôi sẽ còn phải cẩn thận với một vài câu chuyện mà con cái chúng tôi có thể bị ảnh hưởng – trên tivi và trong âm nhạc, từ bạn bè và từ đường phố – đó là xã hội đang nhìn nhận chúng như thế nào.

Định kiến sẽ bị xóa bỏ

Chiến dịch tranh cử vào thượng viện liên bang của tôi cho thấy cộng đồng da trắng và da đen ở Illinois đã thay đổi ra sao suốt 25 năm qua. Vào thời điểm tôi ra tranh cử, lịch sử Illinois đã từng có người da đen được bầu vào cơ quan quyền lực bang, trong đó có một bộ trưởng tài chính bang và sau đó là tổng chưởng lý (Roland Burris), một thượng nghị sĩ liên bang (Carol Moseley Braun), và lúc đó bang cũng có một bộ trưởng ngoại giao đương nhiệm da đen là Jesse White, người đã chiếm được số phiếu cao nhất bang hai năm trước đó. Nhờ thành công của những người đi trước mà chiến dịch của tôi không còn là điều gì đó khác thường – có thể tôi không được ủng hộ để giành thắng lợi, nhưng màu da của tôi cũng không hề làm tôi mất đi cơ hội chiến thắng.

Điều này không có nghĩa định kiến đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Tuy nhiên, tôi vẫn nghĩ ở nước Mỹ ngày nay, người dân không còn khư khư giữ lấy định kiến đó như trước – và do đó định kiến đó sẽ bị xóa bỏ. Một cậu thiếu niên da đen đang đi trên phố có thể khiến một cặp vợ chồng da trắng sợ hãi, nhưng nếu cậu bé đó lại là bạn học con trai họ thì họ có thể mời cậu đến ăn tối.

Một người da đen có thể khó mà gọi được taxi vào đêm muộn, nhưng nếu anh ta là một kỹ sư phần mềm có năng lực, Microsoft sẽ không e ngại gì khi tuyển dụng anh ta. Cộng đồng da đen có thể phá bỏ hàng rào về tâm lý, có thể tự bảo vệ bằng cách chuẩn bị cho tình huống xấu nhất. “Tại sao tôi phải cố gắng đánh thức dân da trắng thoát khỏi cái nhìn ngu dốt về chúng ta? – một vài người da đen nói với tôi – Chúng ta đã cố gắng 300 năm nay rồi và có được kết quả gì đâu”. Với những câu nói đó, tôi trả lời rằng hãy sống theo những gì đã có thay vì những gì có thể có.

Sau mỗi bài phát biểu khi xuất hiện trước cử tọa là người nhập cư, tôi thường bị nhân viên trêu đùa vì theo họ bài phát biểu của tôi bao giờ cũng có ba phần như sau: “Tôi là bạn của các bạn”, “(điền tên nước gốc của cử tọa) là cái nôi của nền văn minh”, và “các bạn là hiện thân của giấc mơ Mỹ”.

Nhân viên của tôi nhận xét rất đúng, thông điệp của tôi chỉ đơn giản như vậy, vì tôi hiểu chỉ sự có mặt của tôi trước những công dân Mỹ mới này cũng đã cho họ thấy họ được chú ý, rằng họ chính là những cử tri quan trọng nếu tôi muốn thành công và họ cũng có đầy đủ vị thế công dân, đáng được tôn trọng, là hiện thân của giấc mơ Mỹ.

Không có gì phải lo sợ trước những người mới đến

Vào một sáng thứ bảy, tôi tham dự một hội thảo về nhập quốc tịch tại nhà thờ St. Pius ở Pilsen. Khoảng 1.000 người xếp hàng ngoài nhà thờ, trong đó có những gia đình trẻ, các cặp vợ chồng lớn tuổi, những người già phải ngồi xe lăn. Bên trong nhà thờ, mọi người ngồi trật tự trên dãy ghế gỗ dài, cầm những lá cờ Mỹ nhỏ mà nhà tổ chức phát cho họ, chờ được các tình nguyện viên gọi tên và hướng dẫn họ phải làm gì để bắt đầu một quy trình chắc sẽ kéo dài hàng năm để trở thành công dân Mỹ.

Một bé gái khoảng bảy tám tuổi đến gần tôi, với bố mẹ đứng sau lưng và hỏi xin chữ ký. Cô bé kể đang học về chính phủ và sẽ cho cả lớp xem chữ ký của tôi. Tôi hỏi tên cô bé. Cô bé trả lời tên cô là Cristina, đang học lớp 3.

Khi nhìn Cristina dịch lại lời tôi sang tiếng Tây Ban Nha cho bố mẹ nghe, tôi chợt nghĩ nước Mỹ không có gì phải lo sợ trước những người mới đến này, rằng họ đến đây với lý do giống như mọi gia đình đã đến đây 150 năm trước, những người có thể không có giấy tờ hợp pháp, mối quan hệ hay kỹ năng gì đặc biệt, nhưng họ mang trong mình hi vọng về cuộc sống tốt đẹp hơn.

Chúng ta có quyền và nghĩa vụ phải bảo vệ đường biên giới. Nhưng cái đe dọa cuộc sống của chúng ta không phải là chúng ta sẽ bị những người có bề ngoài khác, ngôn ngữ khác vượt qua. Mối đe dọa chỉ đến nếu chúng ta không chịu thừa nhận rằng Cristina và gia đình cô bé cũng là con người, nếu chúng ta không cho họ những quyền và cơ hội mà chúng ta coi là hiển nhiên sẽ dẫn tới bất hòa giữa các sắc tộc, sự bất công mà cả nền dân chủ cũng như nền kinh tế của chúng ta không thể chống lại nổi khi đất nước ngày càng nhiều người da đen và da nâu hơn.

Tôi không muốn Cristina sẽ sống ở tương lai như thế, tôi tự nhủ khi cô bé và gia đình vẫy chào tạm biệt. Tôi không muốn các con gái tôi sẽ sống ở tương lai như thế. Các con tôi và Cristina có thể không phải đối mặt với vấn đề đạo đức rõ ràng như phân chia chỗ ngồi trên xe buýt, như tất cả chúng ta đều đã bị thử thách bởi tiếng nói chia rẽ khiến chúng ta quay lưng lại với nhau. Và khi bị thử thách, tôi hi vọng Cristina và các con tôi đều đã đọc lịch sử đất nước này và sẽ nhận ra chúng đã có được điều vô cùng quý giá.

Nước Mỹ đủ rộng lớn cho mọi giấc mơ.

 

 

 

Kỳ 4: Lời gửi gắm của cử tri

Một trong những công việc làm tôi thích thú nhất khi làm thượng nghị sĩ là tổ chức những buổi họp mặt cử tri.

Tôi đã tổ chức chừng 39 buổi họp như vậy trong năm đầu tiên làm thượng nghị sĩ trên khắp bang Illinois, từ những thị trấn nhỏ ở nông thôn như Anna đến những vùng ngoại ô giàu có như Naperville, trong những nhà thờ của cộng đồng người da đen vùng phía nam và tại một trường đại học ở Rock Island.

Không có gì rình rang lắm. Đến ngày, tôi đến trước nửa giờ để nói chuyện với những người lãnh đạo của thị trấn và bàn luận các vấn đề của địa phương, có thể là về một con phố cần lát lại hay kế hoạch cho một khu trung tâm cao cấp.

“Đừng làm chúng tôi thất vọng”

Số người tham dự thay đổi trong mỗi buổi họp: chúng tôi từng đón tiếp chỉ khoảng 50 người, nhưng đôi lúc con số này lên tới 2.000 người. Nhưng cho dù có bao nhiêu người tham dự đi nữa, tôi vẫn rất vui vì được gặp họ. Họ gồm đủ kiểu người ở những hạt mà chúng tôi tới thăm: đảng viên Cộng hòa và đảng viên Dân chủ, già và trẻ, béo và gầy, là người lái xe tải, giáo sư đại học, bà nội trợ, cựu chiến binh, giáo viên, đại lý bảo hiểm, kế toán viên, thư ký, bác sĩ và người làm công tác xã hội. Họ hầu hết đều lịch sự và chăm chú, ngay cả khi không đồng tình với tôi (hay một ai khác).

Họ hỏi tôi về các đơn thuốc, về thâm hụt ngân sách, về cồn ethanol, về cúm gia cầm, về việc tài trợ cho trường học và chương trình không gian. Khi nhìn khắp đám đông, tôi dường như được tiếp thêm sức mạnh. Từ dáng vẻ của họ, tôi đọc được sự cần cù. Từ cách họ chăm sóc con trẻ, tôi nhìn thấy hi vọng. Thời gian ở bên họ tôi như được tắm mình trong dòng suối mát. Sau đó tôi cảm thấy hoàn toàn thanh thản, sẵn sàng làm công việc mà tôi đã lựa chọn.

Vào cuối buổi gặp mặt, mọi người thường đến bắt tay, chụp ảnh hoặc đẩy lũ trẻ về phía tôi để hỏi xin chữ ký. Họ giúi vào tay tôi một vài đồ vật, những bài báo, những tấm danh thiếp, những tờ giấy viết tay, những tấm huy chương vì đã phục vụ quân đội, những vật tín ngưỡng nhỏ, những tấm bùa may mắn. Đôi khi ai đó nắm lấy tay tôi và nói rằng họ đặt niềm hi vọng lớn ở tôi, nhưng họ lo lắng rằng Washington sẽ làm tôi thay đổi và rồi tôi cũng sẽ giống những người có chức có quyền khác. “Hãy luôn là chính anh – họ gửi gắm với tôi như vậy – Đừng làm chúng tôi thất vọng”.

Khi tranh cử, không phải vấn đề tôi sẽ thắng hay thua (vào thời điểm kết thúc bầu cử sơ bộ, tôi dẫn trước đối thủ Đảng Cộng hòa tận 20 điểm), mà là chuyện cử tri sẽ nhìn tôi như thế nào và tôi sẽ nhận được ít thiện ý hơn nhiều khi gia nhập thượng viện. Vì đó chính là tình thế mà phần lớn đồng nghiệp của tôi, cả ở Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ, gặp phải khi vào thượng viện. Sai lầm của họ được thông báo rộng rãi, những lời nói của họ bị bóp méo và động cơ của họ bị đặt câu hỏi. Họ bị thiêu đốt trong ngọn lửa đó, nó ám ảnh họ mỗi lần họ bỏ một lá phiếu, mỗi lần họ đưa ra một thông cáo báo chí hay một lời phát biểu. Họ không sợ thất bại trong cuộc chạy đua chính trị mà sợ mất đi hình ảnh trong mắt những người đã bỏ phiếu cho họ đến Washington – tất cả những người đã từng nói với họ: “Chúng tôi rất hi vọng vào ông/bà. Đừng làm chúng tôi thất vọng”.

Địa vị công dân

Đã thành truyền thống, những tồn tại của nền chính trị Mỹ đều được quy cho nguyên nhân năng lực của các chính trị gia của chúng ta. Đôi khi điều này còn được diễn tả bằng những từ ngữ đặc trưng: tổng thống là một thằng khờ hoặc hạ nghị sĩ X nào đó chỉ là một tên ăn bám. Đôi khi lại có một bản án bao quát hơn được tuyên như: “Chúng đều là những con rối của nhóm đặc quyền”. Hầu hết cử tri đều kết luận rằng những người ở Washington đều “chỉ là những con buôn chính trị”, nghĩa là việc bầu cử hay địa vị có được đều trái với lương tâm, rằng họ hành động vì tiền đóng góp cho chiến dịch tranh cử, để mua điểm trong các cuộc thăm dò dư luận, hay vì lòng trung thành với đảng phái hơn là cố gắng hành động đúng.

Thời gian tôi phục vụ tại Washington càng lâu, tôi càng thấy bạn bè tôi hay chăm chú theo dõi khuôn mặt tôi để tìm ra dấu hiệu của sự thay đổi, nghiên cứu tôi để tìm sự ngạo mạn mới xuất hiện, tìm kiếm những dấu hiệu về tính hay cãi hay sự thủ thế. Tôi cũng bắt đầu chiêm nghiệm chính mình theo cách đó; bắt đầu nhìn nhận những tính cách cơ bản mà tôi và các cộng sự mới đều có chung, tôi băn khoăn liệu rằng điều gì có thể bảo vệ tôi khỏi việc trở thành một chính trị gia nhàm chán giống như trong các bộ phim truyền hình dở tệ.

Bạn làm chính trị càng lâu thì càng dễ trở thành người can đảm, vì bạn sẽ cảm thấy nhẹ nhõm khi nhận thấy dù bạn làm gì đi nữa cũng luôn có người nổi cáu với bạn, cho dù bạn bỏ phiếu cẩn thận thế nào đi nữa vẫn có người tấn công bạn và mọi sự suy xét đều có thể bị coi là hèn nhát, còn bản thân sự dũng cảm lại bị coi là tính toán. Tôi thấy thoải mái với thực tế là tôi làm chính trị càng lâu càng không cần đến sự nổi tiếng, việc theo đuổi quyền lực, địa vị hay danh tiếng chỉ phản ánh tham vọng nghèo nàn và tôi vẫn trả lời được những câu hỏi của lương tâm chính mình.

Sau một buổi gặp mặt cử tri ở Godfrey, một người đàn ông lớn tuổi đến gặp tôi, nói rằng ông bất bình vì mặc dù tôi phản đối chiến tranh Iraq nhưng tôi vẫn chưa kêu gọi rút hết quân đội khỏi nước này. Chúng tôi đã có vài câu tranh luận ngắn gọn và thân mật, trong đó tôi giải thích mối lo ngại rằng việc rút quân quá đột ngột có thể dẫn tới một cuộc nội chiến nghiêm trọng ở Iraq, có nguy cơ dẫn tới xung đột rộng hơn trên toàn vùng Trung Đông. Cuối cuộc trò chuyện, ông bắt tay tôi. “Tôi vẫn nghĩ là anh sai – ông ta nói – nhưng ít nhất thì có vẻ anh cũng đã suy nghĩ về vấn đề này. Chết tiệt, có khi anh còn làm tôi thất vọng nếu lúc nào anh cũng đồng ý với tôi đấy”. “Cảm ơn ông”, tôi trả lời. Khi ông ta quay đi, tôi nhớ lại thẩm phán Louis Brandeis từng nói: trong nền dân chủ, địa vị quan trọng nhất chính là địa vị công dân.

 

 

Kỳ 5: Đi xin tiền


Đối với phần lớn chính trị gia tiền không phải là vấn đề làm giàu. Ít nhất là trong thượng viện, hầu hết thành viên đều giàu có. Vấn đề ở đây là việc duy trì địa vị và quyền lực; là việc loại bỏ những thách thức và đẩy lùi những lo ngại. Tiền không thể đảm bảo cho chiến thắng, nhưng nếu không có tiền hay không có những đoạn quảng cáo trên truyền hình tiêu tốn hết tiền bạn có, bạn sẽ cầm chắc thất bại.

Trong quá trình vận động tranh cử, Barack Obama tuyên bố người dân Mỹ là mục tiêu duy nhất ông nhắm tới khi gây quỹ

Hỏi xin những người giàu

Số tiền tiêu vào việc tranh cử là một con số ngạt thở, đặc biệt trong cuộc đua ở những bang lớn có thị trường truyền thông đa dạng. Hồi ở Thượng viện bang Illinois, tôi từ chối mọi lời mời đi ăn của những người vận động hành lang, không nhận những tấm séc của nhóm tư bản sòng bạc hay thuốc lá. Khi tôi quyết định tranh cử vào Thượng viện Mỹ, cố vấn truyền thông của tôi – David Axelrod – đã bắt tôi phải ngồi nghe anh ta giải thích về thực tế cuộc sống. Chiến dịch của chúng tôi cần có một ngân sách tối thiểu, chủ yếu dựa vào sự ủng hộ của người dân và “quảng cáo miễn phí” – tức là năng lực tự làm ra tin tức của bạn.

Tuy nhiên David vẫn thông báo với tôi rằng một tuần quảng cáo trên thị trường truyền thông Chicago sẽ tốn cỡ nửa triệu USD. Với bốn tuần phát trên truyền hình, cộng với tất cả chi phí hành chính và lương của nhân viên cho một chiến dịch trên toàn bang, tổng số tiền cuối cùng cho chiến dịch sơ bộ sẽ xấp xỉ 5 triệu USD. Tối đó tôi về nhà và bắt đầu viết ra tên tất cả những người tôi biết sẽ đóng góp cho tôi thành những hàng cột ngay ngắn. Cạnh tên mỗi người, tôi viết số tiền lớn nhất mà tôi cảm thấy mình có thể hỏi xin họ. Tổng số tiền tôi tính được là 500.000 USD.

Không có tài sản lớn riêng thì cơ bản chỉ có một cách để có tiền chạy đua vào thượng viện: bạn phải hỏi xin những người giàu. Trong ba tháng đầu của chiến dịch tranh cử, tôi giam mình trong phòng với trợ lý gây quỹ và thực hiện những cuộc gọi lần đầu cho những người từng tài trợ cho Đảng Dân chủ. Đôi khi mọi người dập máy khi nghe tôi gọi. Thường thì các thư ký sẽ ghi lại lời nhắn và rồi tôi không nhận được hồi âm gì, sau đó tôi sẽ gọi lại hai hoặc ba lần cho đến khi hoặc tự tôi từ bỏ người này hoặc người đó rốt cuộc cũng nghe máy và nhã nhặn từ chối tôi.

Tôi bắt đầu chơi mấy trò trốn tránh tinh vi khi tới giờ gọi điện – vào nhà vệ sinh thường xuyên, đi uống cà phê rất lâu, gợi ý với trợ lý chính sách là chúng tôi phải sửa bài phát biểu về giáo dục lần thứ ba hoặc thứ tư. Đôi khi trong những buổi làm việc như thế, tôi nghĩ đến ông tôi – hồi trung niên ông đã đi bán bảo hiểm nhân thọ và không thành công lắm. Tôi nhớ lại sự khổ sở của ông khi ông cố gắng hẹn gặp những người thà đi làm răng còn hơn là nói chuyện với một viên đại lý bảo hiểm. Hơn bao giờ hết tôi hiểu rõ cảm giác của ông.

Sau tròn ba tháng, chiến dịch của tôi chỉ quyên góp được 250.000 USD – còn xa mới đến ngưỡng tối thiểu có thể chấp nhận được. Tồi tệ hơn, cuộc đua của tôi còn vấp phải cơn ác mộng lớn nhất đối với các chính trị gia: đó là một ứng cử viên tự tài trợ với túi tiền vô tận. Tên ông ta là Blair Hull, người đã bán công ty giao dịch tài chính của ông ta cho Goldman Sachs vài năm trước với giá 531 triệu USD. Một buổi sáng, khi vừa lái xe ra khỏi đường vòng khu chung cư trên đường đến văn phòng, tôi được chào đón bằng hàng hàng lớp lớp những tấm bảng lớn ghi: ủng hộ Blair Hull vào thượng viện. Và suốt năm dặm đường tiếp theo tôi gặp chúng trên mọi phố nhỏ, dọc theo tất cả các đường lớn, ở mọi hướng, mọi ngóc ngách, mọi xó xỉnh – trên cửa sổ tiệm cắt tóc, trên những tòa nhà trống, trước trạm xe buýt, sau quầy bán rau. Tiếp theo là một loạt quảng cáo trên tivi dồn dập xuất hiện suốt sáu tháng cho đến tận ngày bầu cử.

Đến tháng 1-2004, ông Hull đã chiếm vị trí dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận và những người ủng hộ tôi bắt đầu liên tục gọi điện, nhắc tôi rằng tôi cần phải làm gì đó, rằng tôi cũng phải xuất hiện ngay lập tức trên tivi, nếu không tôi sẽ mất tất cả. Tôi phải làm gì?

Món nợ phải đấu tranh

Tôi không thể không thừa nhận cuộc săn tiền đã thay đổi tôi chút ít. Rõ ràng là tôi không còn chút cảm giác xấu hổ nào khi hỏi xin người lạ một số tiền lớn. Đến cuối chiến dịch vận động, những câu nói đùa, vài ba lời trao đổi thường có trong những cuộc gọi xin tiền của tôi cũng không còn. Tôi bỏ hết chúng chỉ để hỏi về tiền và cố gắng sao cho không bị từ chối.

Nhưng tôi lo ngại sẽ có những thay đổi khác nữa trong công việc. Tôi ngày càng nhận thấy mình dành nhiều thời gian hơn với những người giàu tiền bạc – chủ sở hữu công ty luật, chủ ngân hàng đầu tư, giám đốc quỹ phòng tránh rủi ro và nhà đầu tư mạo hiểm. Tôi biết hậu quả của hoạt động gây quỹ là tôi ngày càng giống những nhà tài trợ giàu có tôi gặp, theo nghĩa là tôi dành ngày càng nhiều thời gian cho thế giới đứng trên sự tranh chấp, bên ngoài sự đói khổ, thất vọng, sợ hãi, phi lý và khó khăn của 99% dân số – đây mới chính là những người mà tôi phải phụng sự khi bước chân vào nghề hoạt động công chúng.

Con đường ít đối kháng nhất – với những người gây quỹ thuộc các nhóm lợi ích đặc biệt, hiệp hội các ủy ban hành động chính trị và các cơ sở vận động hành lang hàng đầu – bắt đầu trở nên hấp dẫn khủng khiếp, và nếu quan điểm của nhóm người này không hoàn toàn phù hợp với quan điểm trước kia của bạn thì bạn giải thích sự thay đổi đó là tính thực tế, là phải thỏa hiệp, là nắm vững tình hình. Tôi không bao giờ quen được với việc dùng thuật ngữ “nhóm lợi ích đặc biệt” để chỉ các nhóm người bao gồm cả Tập đoàn dầu khí Exxon Mobil lẫn các công nhân xây dựng, đại diện các công ty dược và phụ huynh trẻ em khuyết tật.

Tuy nhiên, ảnh hưởng của các nhóm lợi ích lên các ứng cử viên chính trị không phải lúc nào cũng tốt. Họ không tìm kiếm ứng viên sâu sắc nhất, có khả năng nhất hay tư tưởng khoáng đạt nhất. Họ chỉ tập trung vào một vài mối quan tâm cụ thể – quỹ lương hưu của họ, hỗ trợ mùa màng cho họ, vụ kiện của họ. Nói đơn giản là họ có mục đích cá nhân. Và họ muốn một quan chức được bầu như bạn giúp họ đạt được mục đích đó. Bạn tự hỏi thế lương tâm chính xác là cái gì: không để các “nhóm lợi ích đặc biệt” điều khiển hay phải tránh việc làm tổn thương bạn bè? Câu trả lời không hề rõ ràng.

Sau đó, lãnh đạo một số công đoàn lớn nhất – công đoàn giáo viên, công đoàn dịch vụ công cộng, công đoàn nhân viên nhà nước và công đoàn dệt may, khách sạn, nhà hàng bang Illinois đã tuyên bố ủng hộ tôi thay vì đối thủ – sự ủng hộ rất quan trọng vì họ giúp chiến dịch vận động của tôi có trọng lượng hơn. Về phía họ, đây thật sự là một động thái mạo hiểm, nếu tôi thua họ sẽ phải trả giá bằng niềm tin, bằng sự ủng hộ từ các thành viên của họ. Tôi nợ những tổ chức này.

Tôi không coi đây là hành động mua chuộc phiếu bầu, tôi không phiền khi thấy mình có nghĩa vụ với công nhân làm nghề chăm sóc tại nhà hay với các giáo viên đang dạy học ở những ngôi trường khó khăn nhất cả nước, nhiều người trong số họ đã dốc tiền túi của chính mình để mua bút chì màu và sách cho học sinh vào đầu mỗi năm học. Tôi bước vào nghề chính trị để đấu tranh cho họ và tôi rất mừng khi công đoàn vẫn ở cạnh tôi, nhắc nhở tôi về điều đó.

 

 

Kỳ 6: Cuộc chiến cuồng nộ

Các chính trị gia nằm trong tay những nhà tài trợ khổng lồ hoặc chịu thua sức ép của các nhóm lợi ích – đây là nội dung chính trong các bản tin chính trị hiện nay, một câu chuyện chỉ đi theo hướng phân tích chuyện gì đang xảy ra với nền dân chủ trong nước.

Nhưng đối với các chính trị gia, còn có một thế lực thứ ba dồn ép họ, hình thành nên bản chất của tranh luận chính trị và giúp chính trị gia đó xác định ông ta có thể và không thể làm gì, những vị trí nào ông ta có thể hay không thể giành được. Thế lực đó chính là báo chí.

Tấm kính lọc

Trong ba năm từ khi tôi tuyên bố ứng cử vào thượng viện cho đến thời điểm cuối cùng của năm đầu tiên làm thượng nghị sĩ, ảnh hưởng tích cực bất thường, đôi khi quá đà, của báo chí đem lại khá nhiều lợi ích cho tôi. Chắc hẳn một phần do tôi là người lép vế hơn trong cuộc tranh cử sơ bộ vào thượng viện, đồng thời tôi khác lạ vì là một ứng viên da đen có lý lịch đẹp. Cũng có thể là do cách giao tiếp của tôi – rời rạc, ngập ngừng và dài dòng quá mức (cả các nhân viên lẫn Michelle đều luôn nhắc nhở tôi về chuyện này), nhưng lại được giới viết lách thông cảm.

Một phép toán đơn giản cũng chứng minh được điều đó. Trong 39 cuộc họp ở các tòa thị chính tôi đã tổ chức trong năm đầu nhậm chức, trung bình mỗi lần có 400-500 người tham gia, có nghĩa tôi đã được gặp 15.000-20.000 người. Giả sử tôi vẫn duy trì được con số này trong cả nhiệm kỳ thì đến ngày bầu cử tiếp theo tôi sẽ tiếp xúc trực tiếp được với 95.000-100.000 cử tri.

Ngược lại, một câu chuyện dài ba phút được phát trên một kênh tin tức địa phương ít người nghe nhất ở Chicago cũng đến được với 200.000 thính giả. Nói cách khác, tôi – cũng như mọi chính trị gia liên bang khác – đang gần như hoàn toàn phụ thuộc các phương tiện truyền thông để đến với cử tri. Đó là tấm kính lọc qua đó mọi người diễn giải lá phiếu của tôi, phân tích câu nói của tôi, kiểm chứng niềm tin của tôi. Ít nhất với công chúng, chân dung tôi là do báo chí phác họa, lời lẽ của tôi là do báo chí nói ra. Tôi trở thành đúng con người mà báo chí dựng nên.

Báo chí ảnh hưởng lên chính trị theo rất nhiều cách. Ngày nay đáng chú ý nhất là hình thức báo chí có tính đảng phái công khai phát triển mạnh: chương trình thảo luận trên đài, kênh truyền hình Fox News, các nhà báo phụ trách mục xã luận, tọa đàm trên truyền hình cáp và gần đây nhất là tác giả các blog; họ nói với nhau về những lời lăng mạ, buộc tội, những chuyện tầm phào và cạnh khóe suốt 24 giờ một ngày, bảy ngày một tuần. Khó mà phủ nhận được rằng cuộc chiến cuồng nộ từ các phe phái được phóng đại trên truyền hình và trên mạng đó đã làm nên thứ văn hóa chính trị thô lỗ. Nó thổi bùng sự giận dữ, sinh ra sự ngờ vực.

Và dù giới chính trị gia có muốn thừa nhận hay không thì những lời đả kích bất tận đó có thể bào mòn nghị lực. Điều kỳ lạ là cuộc tấn công càng thô bạo thì bạn càng không nên quá lo lắng về nó; nếu thính giả của người dẫn chương trình Rush Limbaugh thích nghe anh ta gọi tôi là “Osama Obama” thì thái độ của tôi là cứ để họ vui vẻ với nhau. Bởi những người thạo nghề hơn mới làm bạn đau vì họ được công chúng tin cậy.

Một trường hợp bị diễn giải

Tháng 4-2005, tôi xuất hiện trong chương trình khai trương Thư viện Lincoln mới ở Springfield. Tôi có một bài phát biểu dài năm phút, trong đó tôi nói rằng đặc điểm rất con người của Abraham Lincoln, sự thiếu hoàn hảo trong ông lại khiến ông trở nên rất thuyết phục.

Tôi nói trong phần bình luận: “Vươn lên từ nghèo đói, từ quá trình tự học và cuối cùng trở nên thành thạo ngôn ngữ và luật, khả năng vượt qua những mất mát cá nhân và vẫn giữ thái độ kiên định trước những thất bại liên tiếp – từ tất cả những điều này, chúng ta thấy được tính cách cơ bản của người Mỹ, đó là niềm tin rằng chúng ta luôn có thể thay đổi bản thân để đạt được giấc mơ lớn hơn”.

Vài tháng sau, tạp chí Time đề nghị tôi viết một bài cho số phát hành đặc biệt về Abraham Lincoln. Tôi không có thời gian để viết cái gì mới nên hỏi các biên tập viên liệu họ có chấp nhận bài phát biểu cũ của tôi không. Họ trả lời là được nhưng muốn bài viết đó đậm cá tính hơn nữa – nên nói gì đó về ảnh hưởng của Lincoln lên cuộc đời tôi. Giữa những cuộc họp, tôi vội vàng sửa một vài chỗ. Một trong những thay đổi là câu nói trên được sửa thành: “Vươn lên từ nghèo đói, từ quá trình tự học và cuối cùng trở nên thành thạo ngôn ngữ và luật, khả năng vượt qua những mất mát cá nhân và vẫn giữ thái độ kiên định trước những thất bại liên tiếp – từ tất cả những điều này, Lincoln nhắc tôi nhớ rằng đó không chỉ là cuộc chiến của riêng tôi”.

Ngay sau khi bài viết xuất hiện đã có người lập tức vớ lấy nó, đó là Peggy Noonan, trước kia là người viết các bài phát biểu cho Reagan, phóng viên tờ Wall Street Journal. Dưới tiêu đề “Sự tự cao của chính phủ”, bà này viết: “Tuần này chúng ta thấy thượng nghị sĩ Barack Obama, một người luôn thận trọng, ba hoa trên tạp chí Time và cho rằng ông ta rất giống Abraham Lincoln, chỉ có điều là xuất sắc hơn”.

Ôi trời! Ngay khi bài báo của bà Noonan xuất hiện, nó đã lan khắp mạng, xuất hiện trên tất cả các trang web của cánh hữu như một bằng chứng cho thấy tôi là kẻ kiêu ngạo, ngu dốt nông cạn (nhìn chung trên các trang web đó chỉ có những câu mà bà Noonan nhặt ra chứ không phải toàn bộ bài viết của tôi).

Theo nghĩa này, câu chuyện gợi ý đến một khía cạnh tinh vi hơn, phá hoại hơn của báo chí hiện đại – làm sao một câu chuyện nào đó, được nhắc đi nhắc lại và lan khắp thế giới mạng với tốc độ ánh sáng, cuối cùng lại có thể trở thành một mẩu thực tế khắc nghiệt, bằng cách nào mà những biếm họa chính trị và những quan niệm truyền thống lại chui được vào đầu óc chúng ta trong khi chúng ta không bao giờ dành thời gian suy nghĩ về nó.

Tôi nhớ lại những gì các đồng nghiệp kỳ cựu đã nói từ trước, rằng mỗi lời phát biểu của tôi đều sẽ được nghiên cứu kỹ, bị cắt nhỏ, diễn giải theo những cách mà tôi không thể kiểm soát nổi. Phe đối lập sẽ lục lọi để tìm ra sai lầm, lỗi ăn nói, sự bỏ sót hay mâu thuẫn để lưu lại và sau đó đưa lên một quảng cáo đả kích nào đó trên tivi. Dĩ nhiên, cỗ máy quan hệ công chúng của các chính trị gia cũng như đảng của họ sẽ giúp chăm chút thêm những câu chuyện này. Chính trị gia ngày nay hiểu điều đó.

Ông ta có thể không nói dối, nhưng ông biết không có gì tốt đẹp dành cho những người nói sự thật, đặc biệt khi sự thật đó là vấn đề phức tạp. Sự thật có thể gây ra hoảng sợ; sự thật có thể bị tấn công; báo chí không đủ kiên nhẫn lọc ra toàn bộ sự thật để công chúng có thể nhận thấy sự khác biệt giữa trung thực và dối trá. Hậu quả tiếp theo là vấn đề thái độ – phải nói sao cho tránh được tranh cãi hoặc có được sự ủng hộ cần thiết từ công chúng, hay phải có một lập trường phù hợp với hình ảnh mà báo chí đã tạo ra cho chính trị gia này cũng như với câu chuyện chính trị nói chung trên các phương tiện truyền thông.

Với sự chính trực, ông ta vẫn có thể muốn nói ra sự thật ông đang chứng kiến. Tôi quan sát thấy có nhiều chính trị gia đã vượt qua được những chướng ngại vật ấy và giữ nguyên được tính chính trực của mình. Đó là những người vẫn nhận được tiền quyên góp cho chiến dịch vận động mà không bị mua chuộc, giành được sự ủng hộ mà không bị những nhóm lợi ích đặc biệt chi phối và quản lý được quan hệ với báo chí mà không đánh mất bản thân.

 

 

Kỳ 7: Chỗ ngồi lịch sử

Tôi vẫn nhớ ngày trước lễ tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ, tôi và các nhân viên quyết định nên tổ chức một cuộc họp báo ở văn phòng. Lúc đó tôi xếp ở vị trí 99 về mức độ thâm niên trong thượng viện. Đó cũng là ngày làm việc đầu tiên của tôi ở đây.

Tôi chưa hề tham gia một lần bỏ phiếu nào, chưa hề đề xuất một dự luật nào – thực tế là tôi còn chưa ngồi vào bàn làm việc của mình khi một phóng viên rất nghiêm chỉnh giơ tay và hỏi: “Thưa thượng nghị sĩ Obama, đâu là chỗ ngồi lịch sử của ông?”.

Điểm sáng hiếm hoi

Ngày 4-1-2005, tôi và một phần ba thượng viện đọc lời tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ khóa 109. Từ Illinois, Hawaii, London và Kenya, gia đình và bạn bè tôi tụ tập trên dãy bao lơn dành cho khách để chúc mừng khi tôi và các đồng nghiệp mới đứng cạnh bục đá cẩm thạch, giơ cánh tay phải đọc lời tuyên thệ. Một ngày của những nụ cười và lời cảm ơn, của sự lịch thiệp và hào nhoáng – đó là hình ảnh trong mắt những vị khách đến Capitol.

Sau khi gia đình và bạn bè đều đã về nhà, sau khi buổi tiếp tân kết thúc và mặt trời lại trốn sau bức màn xám xịt của mùa đông, một sự thật duy nhất, có vẻ như không thể thay đổi, chắc chắn lại lơ lửng trên thành phố này: đất nước chúng ta đang bị chia rẽ, và Washington cũng bị chia rẽ, sự chia rẽ về chính trị chưa từng có kể từ trước Thế chiến thứ hai. Đối với tôi, những chuyện này hoàn toàn không đáng ngạc nhiên. Tôi đã quan sát từ xa những cuộc chiến chính trị leo thang ở Washington.

Về cá nhân mà nói, một chính quyền nếu thật sự đại diện cho người Mỹ – và thật sự phục vụ người Mỹ – sẽ đòi hỏi phải có một nền chính trị kiểu khác. Nền chính trị đó cần phản ánh cuộc sống thực tế của chúng ta, chứ không phải là loại sản phẩm đã được đóng gói và chỉ việc lấy ra khỏi giá. Nó phải được dựng nên từ những gì là truyền thống tốt đẹp nhất và phải nhìn nhận đến cả những phần tối trong lịch sử của chúng ta.

Tôi có cảm giác mình như một anh chàng lính mới, xuất hiện sau cuộc chiến với bộ quân phục sạch bóng, không một hạt bụi, hăm hở được tham gia trong khi đồng đội vấy đầy bùn đang chăm sóc vết thương.

Khi tôi đang bận rộn với những buổi phỏng vấn và chụp ảnh, với đầy những ý tưởng cao cả rằng cần giảm bớt tư tưởng đảng phái và thái độ gay gắt thì phe Dân chủ bị đánh bại trên toàn bộ các mặt trận – vị trí tổng thống, số ghế đa số trong thượng viện và hạ viện đều thuộc đảng Cộng hòa. Các đồng sự Dân chủ đã chào đón tôi một cách không thể nhiệt tình hơn; họ gọi chiến thắng của tôi là “một trong những điểm sáng hiếm hoi của đảng ta”.

Buổi lễ tuyên thệ nhậm chức vào thượng viện đã chấm dứt chuỗi ngày dài kể từ khi tôi tuyên bố ứng cử hai năm trước đó – tôi đã đánh đổi một cuộc sống tương đối vô danh lấy một cuộc sống hết sức công khai trước mọi người.

Chắc chắn nhiều thứ vẫn không thay đổi. Gia đình tôi vẫn sống ở Chicago. Nhưng đối với tôi, cả thế giới đã thay đổi một cách sâu sắc, theo những cách mà không phải bao giờ tôi cũng để ý chấp nhận. Lời nói, hành động, kế hoạch đi lại và bản khai thu nhập cá nhân của tôi, tất cả đều xuất hiện trên mặt báo buổi sáng hoặc bản tin ban đêm. Các con tôi bị nhiều người lạ tử tế chặn lại trên đường mỗi khi cùng tôi đi chơi vườn bách thú.

Hội nghị tranh luận lớn nhất thế giới

Hầu hết mọi ngày tôi vào điện Capitol qua đường tầng hầm. Phòng họp thượng viện không phải là nơi đẹp nhất điện Capitol, nhưng nó cũng gây ấn tượng mạnh. Trên những bậc thang thoai thoải, 100 chiếc bàn bằng gỗ gụ xếp thành bốn vòng hình móng ngựa vây quanh khu chủ tọa. Một vài chiếc trong số này có từ năm 1819, và trên mỗi bàn có một hộp nhỏ để lọ mực và bút lông. Mở ngăn kéo của bất kỳ bàn nào bạn cũng sẽ thấy tên của thượng nghị sĩ đã từng sử dụng nó, được chính tay những người đó viết hoặc khắc lên: Taft và Long, Stennis và Kennedy.

Đôi khi đứng trong căn phòng này, tôi tưởng như nhìn thấy Paul Douglas hay Hubert Humphrey đang ngồi ở một trong những chiếc bàn, kêu gọi thông qua luật quyền công dân; hay Lyndon B. Johnson đang đi đi lại lại giữa các dãy ghế, túm cổ áo mọi người và đòi phiếu bầu.

Trừ vài phút đến để bỏ phiếu thì tôi và các đồng nghiệp không dành nhiều thời gian trong phòng này. Phần lớn các quyết định như nên đề xuất dự luật gì, vào thời điểm nào, cần sửa đổi gì, và làm thế nào để những người bất hợp tác quay sang hợp tác… đều đã được giải quyết ổn thỏa từ trước giữa thủ lĩnh phe đa số, chủ tịch ủy ban liên quan, nhân viên của họ và (tùy thuộc mức độ bất đồng cũng như sự rộng rãi của đảng viên Cộng hòa đang xử lý dự luật này) đồng nhiệm của họ ở đảng Dân chủ.

Khi chúng tôi lên đến tầng này và viên thư ký đọc danh sách điểm danh, mỗi thượng nghị sĩ phải quyết định quan điểm của mình sau khi đã tham khảo ý kiến của nhân viên, lãnh tụ phe họ, nhóm vận động hành lang và các nhóm lợi ích, cũng như thư cử tri và khuynh hướng tư tưởng. Ở cái hội nghị tranh luận lớn nhất thế giới này, không ai là người lắng nghe.

Mỗi tuần ở Washington ba ngày nên tôi thuê một căn hộ đơn nhỏ gần Trường Luật Georgetown, trên một tòa nhà cao tầng nằm giữa đồi Capitol và trung tâm thành phố. Ban đầu, tôi cố gắng thưởng thức sự cô đơn mới mẻ, tự ép mình nhớ lại những niềm vui của cuộc sống độc thân. Nhưng vô ích, sau 13 năm lập gia đình, tôi phát hiện mình đã hoàn toàn trở thành người thích sống ở nhà, yếu đuối và không tự làm được cái gì.

Buổi sáng đầu tiên thức dậy ở Washington, tôi nhận thấy mình đã quên mua rèm che bồn tắm và phải bám vào tường để khỏi làm ướt sàn nhà tắm. Đêm tiếp theo, khi ngồi xem thể thao và làm ít bia, tôi ngủ quên sau một hiệp đấu, hai giờ sau tỉnh dậy thấy mình đang ngủ trên ghế xalông và bị vẹo cổ trầm trọng. Mấy món ăn mang về nhà không còn ngon lành, sự tĩnh lặng làm tôi khó chịu.

Tôi gọi điện về nhà thường xuyên chỉ để nghe giọng nói của hai con gái, tôi nhớ da diết cái ôm ấm áp của bọn trẻ và mùi thơm ngòn ngọt trên da thịt chúng. “Chào con yêu!”. “Con chào bố”. “Có gì hay không con?”. “Từ lần trước bố gọi ấy ạ?”. “Ừ đúng rồi”. “Chả có gì bố ạ. Bố muốn nói chuyện với mẹ không ạ?”.

 

 

 

 

 

 

 

 

Kỳ 8: Một gia đình


Vào đầu năm thứ hai làm việc ở thượng viện, cuộc sống của tôi đã đi vào ổn định. Tôi thường rời Chicago vào đêm thứ hai hoặc sáng thứ ba, tùy lịch bỏ phiếu của thượng viện.

Chiều thứ năm chúng tôi được phòng hậu cần thông báo ngày giờ lần bỏ phiếu cuối cùng trong tuần, đến giờ đã định, tôi xếp hàng ở phòng họp thượng viện cùng các đồng nghiệp để bỏ phiếu rồi vội vàng chạy xuống những bậc thang điện Capitol, hi vọng sẽ bắt kịp chuyến bay về đến nhà trước khi bọn trẻ đi ngủ.

Michelle

Phần lớn mọi người khi gặp vợ tôi đều nhanh chóng kết luận cô ấy rất đặc biệt: thông minh, hài hước và luôn duyên dáng. Michelle cũng rất đẹp, mặc dù không phải đẹp theo kiểu làm cho đàn ông cảm thấy nguy hiểm hay phụ nữ cảm thấy khó chịu. Đó là vẻ đẹp sâu thẳm của một người mẹ, của một người bận rộn chứ không phải cái đẹp đập vào mắt như ảnh bìa các tạp chí hào nhoáng.

Tôi gặp Michelle vào mùa hè năm 1988, lúc đó chúng tôi cùng làm việc cho Sidley & Austin, một công ty luật lớn ở Chicago. Mặc dù Michelle trẻ hơn tôi ba tuổi nhưng cô ấy đã hành nghề luật sư và đã từng theo học Trường Luật Harvard ngay sau khi tốt nghiệp. Lúc đó tôi mới học xong năm thứ nhất ở trường luật và làm việc với tư cách cộng tác viên mùa hè. Tôi được biết Michelle lớn lên ở vùng nam Chicago, trong một ngôi nhà nhỏ ngay phía bắc khu dân cư mà tôi làm việc.

Cha Michelle là người điều khiển máy bơm nước cho cả thành phố; mẹ làm nội trợ cho đến khi con cái trưởng thành và hiện bà làm thư ký ở ngân hàng. Vài tuần sau đó, ngày nào chúng tôi cũng gặp nhau, trong thư viện công ty, ở quán cà phê hoặc những lần đi chơi do công ty tổ chức cho cộng tác viên mùa hè để thuyết phục nhân viên rằng gắn bó với nghề luật không có nghĩa là phải nghiên cứu tài liệu giờ này qua giờ khác.

Nhưng cô ấy vẫn từ chối hẹn hò, bảo rằng thế là không thích hợp vì cô ấy là người hướng dẫn tôi. “Lý do đấy chưa đủ – tôi bảo cô ấy – Nói đi, em hướng dẫn anh những gì? Em chỉ cho anh cách dùng máy photocopy. Em gợi ý anh nên thử ăn ở nhà hàng nào đó. Anh không nghĩ ban lãnh đạo sẽ coi một cuộc hẹn là vi phạm nghiêm trọng quy định công ty đâu”. Cô ấy lắc đầu: “Em xin lỗi”. “Thôi được, anh sẽ thôi. Giờ thế nào? Em là người hướng dẫn anh. Nói cho anh biết anh phải nói chuyện với ai”. Cuối cùng tôi cũng cưa đổ được Michelle.

Sáu tháng sau khi tôi và Michelle gặp nhau, cha Michelle đột ngột qua đời vì biến chứng sau khi phẫu thuật thận. Tôi bay về Chicago, đứng trước huyệt mộ. Michelle gục đầu trên vai tôi. Khi quan tài được hạ xuống, tôi hứa với Frasier Robinson là sẽ chăm sóc con gái ông. Tôi cảm thấy theo một cách nào đó, tuy không nói ra và vẫn chưa chắc chắn, nhưng cô ấy và tôi đã thành một gia đình.


Tình yêu thương

Trong vài năm đầu sau khi kết hôn, Michelle và tôi đã trải qua những giai đoạn điều chỉnh bình thường như mọi cặp vợ chồng khác: học cách đọc cảm xúc của người kia, chấp nhận thói quen và tật xấu của một người xa lạ ngay bên cạnh.

Cả hai đều làm việc chăm chỉ: tôi hành nghề luật ở một công ty nhỏ chuyên về quyền công dân và bắt đầu giảng dạy ở Trường Luật Chicago; còn Michelle lại quyết định bỏ nghề luật, lúc đầu cô ấy làm ở Sở Quy hoạch Chicago, sau đó phụ trách hoạt động ở Chicago cho một chương trình quốc gia tên là Liên minh Xã hội. Thời gian chúng tôi bên nhau càng ít hơn khi tôi tranh cử vào cơ quan lập pháp bang, và dù tôi thường vắng mặt dài ngày và Michelle không thích chính trị, cô ấy vẫn ủng hộ quyết định của tôi: “Em biết đó là điều anh muốn”.

Rồi Malia ra đời, sinh ngày 4-7-1999, rất hiền lành và xinh đẹp. Malia sinh ra vào khoảng thời gian lý tưởng với cả hai chúng tôi: vì tôi không phải họp và cũng không có giờ giảng vào mùa hè nên tối nào tôi cũng có thể ở nhà; trong khi đó Michelle đồng ý làm việc bán thời gian ở Đại học Chicago để có nhiều thời gian chăm sóc con hơn. Nhưng rồi sang mùa thu – khi các lớp tôi dạy bắt đầu vào học, nghị viện bang cũng quay lại làm việc và Michelle đi làm, quan hệ giữa hai chúng tôi bắt đầu xuất hiện căng thẳng.

Tôi thường đi vắng ba ngày liền và kể cả khi về Chicago tôi vẫn phải đi họp buổi tối, phải chấm bài hoặc phải viết báo cáo. Khi Sasha ra đời năm 2001 thì vợ tôi gần như không kiềm chế sự tức giận với tôi nữa. “Anh chỉ nghĩ đến bản thân anh thôi – Michelle thốt lên – Em chưa bao giờ nghĩ em lại phải một mình chăm sóc cả gia đình”.

Khi những năm thử thách đó qua đi và bọn trẻ bắt đầu đi học, chỉ khi nghĩ lại quá khứ, tôi mới bắt đầu cảm kích Michelle với những gì cô ấy đã phải trải qua. Đó là nỗ lực rất điển hình của người mẹ phải đi kiếm tiền thời hiện đại. Vì bất kể tôi nghĩ mình là người theo quan điểm tự do đến mức nào, bất kể tôi tự nhủ Michelle và tôi đều bình đẳng và giấc mơ, khát vọng của cô ấy cũng quan trọng như của tôi bao nhiêu lần đi nữa, thì thực tế khi bọn trẻ ra đời, chính Michelle chứ không phải tôi là người phải điều chỉnh cuộc sống. Dĩ nhiên tôi có giúp đỡ, nhưng luôn tùy thuộc khả năng, kế hoạch làm việc của tôi. Còn Michelle mới là người phải tạm dừng sự nghiệp.

Cơ bản thì tôi đã hoàn thành vai trò của mình. Hôn nhân của chúng tôi vẫn nguyên vẹn và gia đình tôi có cuộc sống đầy đủ. Tôi đi họp phụ huynh và có mặt ở buổi biểu diễn múa, các con gái tôi được sống trong tình yêu thương. Tôi nhận ra rằng mình không đơn độc. Tôi nhớ đến câu trả lời của Michelle hồi vận động tranh cử, khi một phóng viên hỏi Michelle làm vợ một chính trị gia là thế nào. “Thật là khó”, cô ấy đáp. Rồi theo như anh chàng phóng viên đó thì cô ấy nói thêm với một nụ cười: “Đó là lý do tại sao Barack lại luôn có thái độ cảm kích như vậy”.

 

 

 

 

Kỳ 9: Thế giới ngoài kia

Tháng 1-2006, tôi đáp chiếc máy bay vận tải quân sự C-130 đi thăm Iraq lần đầu tiên. Hai đồng nghiệp cùng đi với tôi là thượng nghị sĩ Evan Bayh bang Indiana và hạ nghị sĩ Harold Ford, Jr. bang Tennessee đều từng đến đây.

Đã bốn năm rưỡi trôi qua kể từ ngày tôi nghe tin máy bay đâm vào Trung tâm Thương mại thế giới, tôi đang bay đến Baghdad với tư cách là một thượng nghị sĩ, phần nào đó có trách nhiệm tìm ra cách giải quyết tình trạng lộn xộn ở đây.

Sự căng thẳng đang chịu đựng

Tôi chỉ có một ngày rưỡi ở Iraq, chủ yếu là ở Vùng Xanh, một khu vực rộng mười dặm nằm ở trung tâm Baghdad, trước đây từng là trái tim của chính quyền Saddam Hussein, hiện là khu vực cách ly do Mỹ kiểm soát, bao quanh là tường an ninh và hàng rào dây thép gai. Nhóm phụ trách tái thiết trình bày ngắn gọn về khó khăn khi duy trì việc cung cấp điện và sản xuất dầu trước sự phá hoại của các lực lượng nổi dậy; các sĩ quan tình báo nói về nguy cơ ngày càng cao đến từ phiến quân Hồi giáo và những cuộc tấn công của nhóm này vào lực lượng an ninh Iraq.

Sau đó, chúng tôi gặp gỡ các thành viên của Ủy ban bầu cử Iraq, họ rất hăng hái trước những thay đổi lớn trong kỳ bầu cử gần đây, và trong một giờ chúng tôi lắng nghe đại sứ Mỹ Khalilzad nói về những hoạt động ngoại giao con thoi phức tạp mà ông đang đảm nhiệm để đưa người Shiite, Sunni và người Kurd hợp tác với nhau trong một chính phủ thống nhất.

Vào buổi chiều muộn, đoàn chúng tôi tổ chức một cuộc họp báo với các đại diện báo chí quốc tế ở Baghdad. Sau phần hỏi và trả lời, tôi đề nghị các phóng viên ở lại để nói chuyện vui, không chính thức. Tôi nói tôi muốn biết về cuộc sống ngoài Vùng Xanh. Họ vui vẻ đồng ý nhưng nói chỉ có thể ở lại thêm 45 phút – lúc đó đã muộn, và cũng như nhiều người dân Baghdad, họ tránh đi lại sau khi mặt trời lặn.

Nhìn chung cả nhóm đều trẻ, phần lớn mới ở tuổi 20 hoặc ngoài 30, tất cả đều ăn mặc đơn giản đến mức có thể nghĩ họ là sinh viên. Tuy nhiên, trên khuôn mặt họ đã in dấu những căng thẳng đang chịu đựng – đến thời điểm đó đã có 60 nhà báo bị chết ở đây. Tôi hỏi liệu họ có nghĩ căng thẳng sẽ giảm bớt nếu Mỹ rút quân không và đoán rằng họ sẽ khẳng định điều đó. Nhưng ngược lại, họ lắc đầu. “Tôi đoán nếu thế đất nước này sẽ rơi vào nội chiến chỉ trong vòng một tuần – một người trả lời – Một trăm, có thể là 200.000 người chết. Chúng ta là thứ duy nhất giữ cho nơi này còn gắn bó với nhau”.

Đêm đó tôi không ngủ được; tôi xem một trận bóng chày được truyền trực tiếp qua vệ tinh đến ngôi nhà bên hồ trước đây dành cho Saddam và khách của ông ta. Có đôi lần tôi tắt tiếng tivi và nghe tiếng súng cối phá tan sự tĩnh lặng.


Rút quân

Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên chiếc Black Hawk đến căn cứ thủy quân lục chiến ở Fallujah nằm ở vùng phía tây khô cằn của Iraq, thuộc tỉnh Anbar. Ở phần Anbar do người Sunni chiếm đóng đã diễn ra một trong những cuộc giao tranh đẫm máu nhất chống lại quân nổi dậy, và không khí doanh trại ở đây khắc nghiệt hơn nhiều so với ở Vùng Xanh; chỉ hôm trước thôi năm lính thủy đánh bộ đi tuần đã chết do bom bên vệ đường hoặc do vũ khí nhẹ của quân nổi dậy. Quân lính ở đây trông cũng ít kinh nghiệm hơn, phần lớn mới ngoài 20 tuổi, rất nhiều anh chàng mặt còn mụn và cơ thể vẫn đang lớn.

Vị tướng chỉ huy doanh trại đã thu xếp một cuộc gặp ngắn và chúng tôi nghe các sĩ quan cao cấp nói về tình trạng tiến thoái lưỡng nan của quân Mỹ: nhờ khả năng được cải thiện nên họ bắt được ngày càng nhiều thủ lĩnh quân nổi dậy, nhưng cũng giống như các băng đảng đường phố ở Chicago, cứ mỗi khi họ bắt được một tên thì có vẻ như luôn có hai tên khác sẵn sàng thay thế. Không chỉ chính trị mà điều kiện kinh tế cũng góp phần gây ra tình trạng nổi loạn – chính phủ thì bỏ mặc Anbar, còn tỉ lệ đàn ông thất nghiệp lên tới xấp xỉ 70%.

“Chỉ cần hai hay ba USD là anh thuê được bọn trẻ đặt bom rồi – một sĩ quan nói – Ở đây chừng đó là một số tiền lớn”.

Đến cuối cuộc họp thì trời hơi có sương mù nên chúng tôi phải hoãn bay đến Kirkuk. Trong khi chờ đợi, nhân viên phụ trách chính sách ngoại giao Mark Lippert đi lại nói chuyện với một sĩ quan cao cấp, còn tôi bắt chuyện với một trong những viên thiếu tá phụ trách chống phiến quân vùng này. Khi viên sĩ quan tùy tùng ra hiệu máy bay đã sẵn sàng cất cánh, tôi chúc viên thiếu tá gặp may mắn và đi ra máy bay. Mark đi ngay cạnh tôi và tôi hỏi anh thu được gì sau khi nói chuyện với viên sĩ quan cao cấp kia. “Tôi hỏi ông ta nghĩ cách tốt nhất để giải quyết tình trạng này là gì”. “Thế ông ta bảo sao?”. “Rút quân”.

Câu chuyện Mỹ can thiệp vào Iraq sẽ còn được phân tích và tranh cãi trong nhiều năm tới – thật ra đó vẫn là một câu chuyện đang dở dang. Nhưng cũng không quá sớm để rút ra một vài kết luận từ những gì chúng ta đã làm ở Iraq. Bởi khó khăn xuất hiện không chỉ do làm việc kém mà chúng còn phản ánh nhận thức sai lầm. Thực tế là gần năm năm sau sự kiện 11-9 và 15 năm sau khi Liên Xô tan rã, nước Mỹ vẫn chưa có chính sách an ninh quốc gia mang tính gắn kết.

Tại sao lại đưa quân đến Iraq chứ không phải Bắc Triều Tiên hay Myanmar? Có phải chúng ta định sử dụng sức mạnh quân sự ở bất cứ đâu có chế độ độc tài khủng bố người dân, và nếu như vậy thì phải ở lại bao lâu để đảm bảo đất nước đó có nền dân chủ vững chắc? Chúng ta cần thông qua Liên Hiệp Quốc trong mọi vấn đề hay chỉ thông qua khi họ sẵn lòng phê chuẩn các quyết định của chúng ta?…

Tôi không dám nói tôi có sẵn chiến lược lớn này trong túi. Nhưng tôi biết tôi tin vào cái gì và tôi sẽ đề xuất một vài vấn đề mà người dân Mỹ sẽ thống nhất, đó là những điểm khởi đầu cho sự đồng thuận mới.

 

 

 

Kỳ cuối: Tương lai sáng sủa

Vào một chiều tháng một lạnh lẽo ngay trước ngày tôi làm lễ tuyên thệ tại thượng viện năm 2004, xe của tôi đi qua cánh cổng vào Nhà Trắng.

Một nhân viên của Nhà Trắng đến đón tôi và đưa tôi vào phòng vàng, nơi các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ mới đã đến khá đông đủ. Đúng 4 giờ chiều, Tổng thống Bush được thông báo đã đến và ông bước lên bục, trông ông khỏe mạnh và hoạt bát. Trong khoảng mười phút gì đó, ông nói chuyện với chúng tôi, kể vài chuyện cười, kêu gọi đất nước cùng đoàn kết, sau đó mời chúng tôi đến đầu bên kia Nhà Trắng để ăn nhẹ, chụp ảnh với ông và đệ nhất phu nhân.

Con người khác của Tổng thống Bush

Đúng lúc đó bỗng nhiên tôi thấy đói meo nên trong khi các nghị sĩ khác xếp hàng chờ chụp ảnh thì tôi đi thẳng về bàn ăn tự chọn. Khi tôi trệu trạo món nguội khai vị và bắt chuyện với một vài hạ nghị sĩ, tôi nhớ lại hai lần gặp tổng thống trước đó, lần thứ nhất là một cuộc viếng thăm chúc mừng ngắn sau bầu cử, lần thứ hai là một bữa ăn sáng nhẹ ở Nhà Trắng với các thượng nghị sĩ mới. Trong cả hai lần tôi đều thấy tổng thống là người dễ mến, khôn ngoan, làm việc nghiêm túc nhưng thẳng thắn, nhờ tính cách đó mà ông trúng cử hai nhiệm kỳ.

Trong lần gặp gỡ vào bữa sáng đó, có một khoảnh khắc tôi nhìn thấy con người khác của vị tổng thống. Trước khi tôi tiến về phòng xanh thì tổng thống hiện ra ở cửa và vẫy tôi vào. “Obama! – ông nói khi bắt tay tôi – Đến đây tôi giới thiệu anh với Laura. Laura, em nhớ Obama chứ? Mình đã nhìn thấy anh ấy trên tivi hôm tối bầu cử đấy. Một gia đình thật đẹp. Vợ anh đúng là một vị phu nhân ấn tượng”. “Ngài tổng thống quá khen chúng tôi rồi”, tôi nói khi bắt tay đệ nhất phu nhân, hi vọng mình đã lau sạch vụn bánh trên mặt. Tổng thống quay sang viên sĩ quan hầu cận đứng cạnh, anh ấy xịt ra một cục bọt dung dịch rửa tay to tướng lên bàn tay tổng thống.

“Anh muốn rửa tay không? – tổng thống hỏi tôi – Cái này hay. Dùng nó thì đỡ bị lạnh”. Tôi không muốn trông mình có vẻ mất vệ sinh nên cũng nhận một cục bọt. “Anh qua đây một chút”, ông dẫn tôi vào trong phòng và nói nhỏ: “Này, tôi hi vọng anh không giận nếu tôi cho anh một lời khuyên chứ”. “Không đâu, thưa tổng thống”.

Ông gật đầu: “Tương lai của anh tốt lắm. Rất sáng sủa. Nhưng tôi đã ở thành phố này vài năm rồi, và tôi nói này, sẽ khó khăn lắm đấy. Anh mà thu hút sự chú ý như hiện tại thì mọi người sẽ chĩa mũi dùi vào anh. Không chỉ người bên đảng của tôi đâu, anh biết đấy, cả người bên đảng của anh nữa. Ai cũng chờ anh trượt chân hết, anh hiểu không? Thế nên phải cẩn thận đấy”. “Cảm ơn tổng thống”. “Được rồi. Tôi phải đi đây. Mà anh biết không, tôi với anh có cái giống nhau đấy”. “Đó là cái gì ạ?”. Tổng thống nói: “Là tôi với anh đều đã phải tranh luận với Alan Keyes. Gã đó là một tay quái, đúng không?” (Alan Keyes từng tranh cử vị trí ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa với George W. Bush năm 2000, và tranh cử vị trí thượng nghị sĩ bang Illinois với Obama năm 2004).

Tôi bật cười, và khi ra cửa tôi kể cho ông nghe vài chuyện hồi chiến dịch tranh cử. Mãi đến khi ông rời phòng tôi mới nhận thấy tôi đã khoác vai ông một chút khi nói chuyện – một thói quen vô thức của tôi, nhưng tôi nghi thói quen đó hẳn đã làm rất nhiều bạn tôi, chưa nói đến mấy anh chàng mật vụ trong phòng này, cảm thấy hơi khó chịu.

Một phần của công trình

Tôi vẫn nhớ một lần nói chuyện với một người bạn 20 năm trước. Đó là một người lớn tuổi hơn tôi, từng hoạt động vì quyền công dân rất tích cực ở Chicago hồi thập kỷ 1960 và đang giảng dạy ngành đô thị học ở Đại học Northwestern. Lúc đó tôi quyết định theo học trường luật sau ba năm làm nghề tổ chức cộng đồng; và vì ông là một trong số ít những người giảng dạy nghiên cứu tôi quen nên tôi nhờ ông viết cho tôi một lá thư giới thiệu.

Ông nói ông rất sẵn lòng, nhưng trước hết ông muốn biết tôi định làm gì với bằng luật. Tôi nói tôi quan tâm đến vấn đề quyền công dân và lúc nào đó tôi sẽ thử bước vào chính trường. Ông gật đầu và hỏi liệu tôi đã suy nghĩ về những vấn đề liên quan đến con đường sự nghiệp đó hay chưa, tôi sẵn lòng làm gì để ra tờ báo luật, để liên minh với ai đó hoặc để được bầu vào một vị trí nào đó rồi tiến xa hơn.

Theo ông, thường thì cả luật và chính trị đều đòi hỏi phải biết thỏa hiệp; không phải về từng vấn đề cụ thể mà về những thứ cơ bản hơn – đó là giá trị và lý tưởng của mỗi người. 20 năm sau, khi nghĩ về lần nói chuyện đó, tôi thấy mình biết ơn những gì ông nói hơn trước rất nhiều. Tôi nghĩ về những gì Benjamin Franklin đã viết cho mẹ ông để giải thích tại sao ông lại dành nhiều thời gian làm việc cho xã hội: “Con muốn người ta nói về con là: “Ông ta đã sống có ích” chứ không phải “Ông ta đã chết trong giàu có” mẹ ạ”.

Tôi thích được chạy ở công viên Mall. Tôi thường chạy ở đó vào chiều muộn. Ban đêm, nơi này được chiếu sáng nhưng thường vắng lặng. Đứng giữa những chiếc cột cẩm thạch, tôi đọc lại bài phát biểu Gettysburg và diễn văn nhậm chức lần thứ hai của Abraham Lincoln. Tôi nhìn xuống hồ nước, tưởng tượng đám đông lặng đi nghe giọng nói hùng hồn của mục sư Martin Luther King, xa hơn là mái điện Capitol rực sáng lung linh.

Tôi nghĩ đến nước Mỹ và những người đã sáng lập nên đất nước. Họ đã vượt lên trên những khát vọng tầm thường, những tính toán nhỏ nhen, tưởng tượng ra một quốc gia trải rộng khắp lục địa. Và những người như Lincoln và King đã nằm xuống vì sự nghiệp làm cho đất nước chưa hoàn hảo này ngày càng tốt đẹp hơn. Và tất cả những người vô danh khác, những nô lệ và binh lính, thợ may và người bán thịt, họ đã xây dựng cuộc sống cho chính mình, cho con cháu họ, với từng viên gạch, từng thanh đường ray, với đôi tay chai sần để xây dựng nên thế giới của giấc mơ chung. Tôi muốn trở thành một phần của công trình ấy.

Trái tim tôi tràn đầy tình yêu với đất nước này.

 

 

Tôi được tận mắt thấy Nhà Trắng lần đầu tiên vào năm 1984. Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp đại học. Đó là một chuyến đi ngắn, tôi và các bạn sinh viên đi dạo đến công viên quốc gia và đài tưởng niệm Washington, sau đó chúng tôi dành vài phút ngắm Nhà Trắng. Tôi cảm thấy kinh ngạc, không phải trước những đường cong duyên dáng của tòa nhà, mà vì nó quá cởi mở trước sự ồn ào náo nhiệt của thành phố. Chúng tôi được đứng quá gần cổng vào, sau đó có thể đi vòng ra mặt sau tòa nhà để ngắm vườn hồng và khu nhà ở phía xa. Tôi nghĩ vị trí, tư thế cởi mở của tòa Nhà Trắng nói lên rằng vị lãnh đạo đất nước cũng không khác chúng ta bao nhiêu, họ cũng sống theo pháp luật và những giá trị chung của nước Mỹ.

20 năm sau, không dễ mà đến gần được Nhà Trắng nữa. Chốt kiểm soát, lực lượng bảo vệ có vũ trang, xe tải, gương, chó và các chướng ngại vật di động vây quanh bảo vệ Nhà Trắng trong phạm vi hai ngã tư đường. Ôtô không phận sự không được phép đi vào đại lộ Pennsylvania. Tôi thấy thoáng buồn trước những điều không còn nữa.

Barack Obama

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hành trình tìm Tổng thống Mỹ thứ 44

Đại hội đảng Cộng hòa và Dân chủ vừa kết thúc và đã tiến cử hai liên danh ra tranh cử tổng thống Mỹ. Bên Dân chủ là Barack Obama và Joe Biden; phía Cộng hòa là John McCain và Sarah Palin. Kể từ ngày 6.9.2008, hai liên danh đã bắt đầu cuộc đua nước rút cho gần 2 tháng còn lại.

 

 

 


Cuộc bầu cử sôi nổi nhất


Có thể khẳng định cuộc bầu cử năm nay, mà người ta thường gọi là “cuộc bầu cử 1 tỉ USD”, là sự kiện sôi nổi nhất trong lịch sử bầu tổng thống của nước Mỹ.

Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng khởi đầu bằng các cuộc bầu cử sơ bộ tiến hành vào đầu năm 2008 đã diễn ra đầy kịch tính, hấp dẫn và kỳ thú mà trước hết là do ở phía đảng Dân chủ, lần đầu tiên xuất hiện “3 cái đầu tiên”: ứng viên nữ đầu tiên, ứng viên da đen đầu tiên và ứng viên người gốc Mexico đầu tiên. Rồi đến cuộc bầu sơ bộ đầu tiên ở bang Iowa đêm 3.1.2008, mà có thể nói là cả nước Mỹ đều theo dõi với kết quả thật bất ngờ: ứng viên da đen – thượng nghị sĩ Barack Obama dẫn đầu với 38% phiếu. Điều đáng nói ở chỗ, Iowa là tiểu bang mà người da trắng chiếm tuyệt đại đa số – dân số bang Iowa là 2.982.085 người, trong đó người da trắng chiếm đến 94,9%, người da đen chỉ 2,3%, còn lại là các sắc dân khác – thế nhưng số người hậu thuẫn ông lại vượt bậc, để cho ông John Edwards về hạng nhì và bà Hillary Clinton hạng 3.

Tiếp đến là những bất ngờ bên đảng Cộng hòa khiến Thị trưởng New York, ông Rudy Giuliani, phải bỏ cuộc. Bất ngờ tiếp nối bất ngờ nên vào cuối tháng 1.2008, một thăm dò của Gallup đăng trên USD Today cho thấy cuộc bầu cử năm nay thật là hấp dẫn với 62% cử tri Mỹ sẽ hăm hở đi bầu, tức cao hơn đến 17% so với năm 2000. Đặc biệt, những người Dân chủ “náo nức” hơn với 74% so với phía Cộng hòa 49%.

Góp phần vào sự sôi nổi của cuộc bầu cử năm 2008 là những yếu tố sau đây:

Cuộc bầu cử “mở”

ó là cuộc bầu cử mà cả tổng thống lẫn phó tổng thống đương nhiệm đều không ra tranh cử. Như vậy cuộc đua vào Nhà Trắng lần này là một cuộc đua đặc biệt, vì kể từ năm 1928, tức 80 năm qua, lần đầu tiên không có ai trong 2 nhân vật đứng đầu ngành hành pháp – tổng thống và phó tổng thống – làm ứng viên tổng thống. Tổng thống George W.Bush thì đã phục vụ đủ 2 nhiệm kỳ theo hiến định nên không được quyền ra tranh cử. Còn Phó tổng thống Dick Cheney thì từng tuyên bố từ hồi năm 2001 và đã lặp lại vào năm 2004 là sẽ không bao giờ ra tranh cử tổng thống. Những đồn đoán về sức khỏe của ông khiến nhiều chuyên gia dự báo có thể ông từ chức sau kỳ bầu cử giữa nhiệm kỳ (với các ghế thống đốc, thượng nghị sĩ và dân biểu) vào tháng 11.2006 để ông Bush có thể chọn một nhân vật giữ chức phó tổng thống và vị này sẽ trở thành ứng viên đầy tiềm năng cho đảng Cộng hòa khi tranh cử tổng thống năm 2008. Nhưng rốt cuộc, ông Cheney vẫn đầy đủ sức khỏe để phục vụ cho đến nay.

Ứng viên của hai đảng đều có cơ hội đồng đều, nếu không muốn nói là những ai đại diện cho đảng Cộng hòa còn “bị” ảnh hưởng do những năm gần đây tình trạng kinh tế suy thoái.

Đổi mới và vực dậy nền kinh tế

Đúng như những lời chỉ trích của thượng nghị sĩ Hillary Clinton tại cuộc họp thường niên lãnh đạo đảng Dân chủ hồi tháng 7.2006, chính quyền của Tổng thống Bush đã làm cho nền kinh tế Mỹ “rối tung lên”, nạn thất nghiệp gia tăng cùng với sự đổ vỡ của hệ thống cho vay tiền mua nhà đối với những người có hồ sơ tín dụng xấu. Nhà Trắng cũng thất bại trong việc đáp ứng những dịch vụ cần thiết hợp với túi tiền của tầng lớp lao động và giai cấp trung lưu. Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy trong các vấn đề mà cử tri quan tâm thì kinh tế đứng hàng đầu với 47%, các vấn đề khác như cuộc chiến Iraq hay an ninh nội địa chỉ chiếm 15%. Trong khi đó, như lời bà Hillary, chính quyền của Tổng thống Bush đã không mang lại “an ninh kinh tế” cho dân chúng qua việc giá cả nhiên liệu gia tăng, chi phí y tế, giáo dục, những dịch vụ cần thiết cho đại đa số công chúng đều tăng cao.

Rõ ràng, nếu so sánh 6 nqăm cầm quyền của Tổng thống Bush (tính đến cuối năm 2006) với những năm điều hành của vị tiền nhiệm là Tổng thống Bill Clinton thì hiệu quả kinh tế khác hẳn. Sau 5 năm cầm quyền, trong bài diễn văn ngày 27.1.1998 nói về tình trạng của liên bang, ông Clinton đã nhấn mạnh: “Trong 3 thập niên, 6 vị tổng thống đã xuất hiện trước quý vị để cảnh báo về điều bất lợi mà việc thâm thủng ngân sách mang đến cho đất nước. Tối nay, tôi xin công bố với các bạn rằng, thâm thủng (ngân sách) liên bang – vốn từng lên tới mức không thể hiểu nổi với 11 con số không – nay sẽ là một con số không đơn giản”.

Cử tri Mỹ háo hức muốn dùng lá phiếu của mình để đòi hỏi chính phủ thực hiện những đổi thay. Đó chính là nguyên nhân khiến cử tri đi bầu năm nay đông hơn bao giờ hết. Có điểm cần lưu ý là tại Mỹ, dân chúng và thậm chí cả các phương tiện truyền thông đại chúng đều chỉ nhắc tới hai đảng Dân chủ và Cộng hòa vì đó là hai chính đảng lớn, chi phối toàn bộ hoạt động của chính trường Mỹ, nhưng trên thực tế, vẫn còn có nhiều đảng nhỏ mà thật ra chỉ hoạt động trong các mùa bầu cử hay khi cần vận động cho một phong trào nào đó, như các đảng Xanh (Green party), đảng Cải cách (Reform party), đảng Xã hội (Socialist party USA)…

Obama chính thức trở thành Tổng thống Mỹ thứ 44
22:05′ 20/01/2009 (GMT+7)
“Tôi, Barack Hussein Obama long trọng thề rằng tôi sẽ trung thành thực hiện chức vụ Tổng thống của nước Mỹ và sẽ dốc hết khả năng để giữ gìn, bảo vệ và bênh vực Hiến pháp Mỹ”, Tổng thống thứ 44 của nước Mỹ đã chính thức tuyên thệ nhậm chức.
Barack Obama hôn vợ Michelle sau khi tuyên thệ nhậm chức. (Ảnh: Reuters)
Obama kết thúc bài phát biểu tuyên thệ nhậm chức và hôn vợ, bà Michelle Obama. Nước Mỹ chính thức bước sang một giai đoạn mới với Tổng thống thứ 44. Điệp khúc “O-ba-ma” vẫn vang khắp khu vực quanh khán đài.
12h06:
Obama đọc lời tuyên thệ. (Ảnh: CNN)
Obama, cầm trên tay cuốn Kinh thánh của Abraham Lincoln, đọc lời tuyên thệ: “Tôi, Barack Hussein Obama long trọng thề rằng tôi sẽ trung thành thực hiện chức vụ Tổng thống của nước Mỹ và sẽ dốc hết khả năng để giữ gìn, bảo vệ và bênh vực Hiến pháp Mỹ”.
Ông nói, nước Mỹ hiện đang ở giữa khủng hoảng. Nền kinh tế Mỹ đang bị suy yếu nghiêm trọng bởi sự tham lam và vô trách nhiệm của một số cá nhân. Nhiều gia đình mất nhà ở, việc làm bị cắt giảm. Thêm vào đó, chi phí chăm sóc y tế quá cao, việc sử dụng năng lượng có nhiều vấn đề.
Ông nói: “Hôm nay, tôi nói với các bạn rằng những thách thức mà chúng ta đang đối mặt là có thực. Chúng rất nghiêm trọng và rất nhiều. Chúng sẽ không dễ gì được giải quyết và còn kéo dài trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, nước Mỹ nên biết điều này – các thách thức này sẽ được giải quyết”.
11h59:
(Ảnh: Reuters)
Joseph Biden giơ tay phải lên và tuyên thệ nhậm chức Phó Tổng thống Mỹ. Trước đó, Aretha Franklin, “Nữ hoàng Tâm hồn” đã cầm microphone để hát bài “Let Freedom Ring”.
11h46:
Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein, một trong những phụ nữ quyền lực nhất tại Thượng viện Mỹ, đã khai mạc buổi lễ bằng câu nói: “Chúng ta tập trung để khắc một đường kẻ nữa trên phiến đá lịch sử vững chắc”.
11h45:
Những tiếng hô “O-ba-ma” vang vọng khắp Mall khi Obama ngồi vào ghế của ông.
11h37:
Nhà Obama tới Đồi Capital. (Ảnh: Washington Post)
Không khí ngày lễ đã tràn ngập National Mall. Đám đông hò reo khi Michelle Obama xuất hiện trên sân khấu.
Một số lối vào khu vực này đã bị ngăn chặn, nhưng hàng nghìn người vẫn đang cố gắng đổ về đây để chứng kiến buổi lễ.
Vào lúc này tại Jakarta, một số học sinh tại trường cũ của Barack Obama đang biểu diễn một vũ điệu Indonesia truyền thống.
11h25:
 

Ngoại trưởng Pháp Bernard Kouchner cảnh báo rằng, Obama sẽ có rất nhiều vấn đề phải giải quyết sau khi lên nắm quyền. “Ông ấy phải đối mặt với một nhiệm vụ to lớn, ngay cả khi ông ấy có những khả năng tuyệt vời. Và tôi không nghĩ chúng ta sẽ trông chờ ông ấy giải quyết mọi thứ ngay lập tức”.

11h10:

Các cựu Tổng thống đã có mặt tại nơi tổ chức buổi lễ: George HW Bush cùng cựu đệ nhất phu nhân Barbara Bush; Jimmy Carter và phu nhân Rosalynn, vợ chồng Bill Clinton.

Chủ tịch Uỷ ban châu Âu Jose Manuel Barroso đưa ra một thông điệp, trong đó có câu: “Cá nhân tôi tin tưởng rằng, việc bầu cử Obama là thời khắc quyết định, mang tính bước ngoặt với nước Mỹ. Và giờ đây, thậm chí, nó có thể trở thành thời khắc quan trọng với cả thế giới”.

 

10h49:
 
Tổng thống đương nhiệm George W. Bush sánh bước cùng người kế nhiệm Barack Obama ra khỏi Nhà Trắng. Nét mặt ông Bush biểu lộ một chút cảm xúc khi bước lên chiếc xe hơi sang trọng đã chờ sẵn bên ngoài tòa nhà.
Phó Tổng thống sắp mãn nhiệm Dick Cheney cũng rời Nhà Trắng trên một chiếc xe lăn.

Trước đó, Michelle Obama và Laura Bush từ Nhà Trắng đã bước lên một chiếc xe đợi sẵn.10h40:

Phó Tổng thống sắp mãn nhiệm Dick Cheney tới dự lễ nhậm chức trên chiếc xe lăn. (Ảnh: Reuters)
Bắt đầu có người ngồi vào chỗ quanh lễ đài.
Trước đó vài phút, nhà Obama và nhà Biden đã tới Nhà Trắng và uống cà phê cùng Tổng thống George W. Bush, Phó Tổng thống Richard Cheney cùng các phu nhân.

Cảnh sát đã chặn thêm nhiều tuyến phố xung quanh National Mall vì đám đông đổ về khu vực trung tâm ngày một nhiều.
9h00:

Khi hàng triệu người nô nức tập trung tại thủ đô nước Mỹ để chứng kiến lễ nhậm chức của Tổng thống thứ 44 của họ thì nhân vật trung tâm của sự kiện này, Barack Obama, bắt đầu ngày trọng đại một cách yên lặng và cung kính tại một buổi lễ ở nhà thờ St John.

Tổng thống George W. Bush đón Tổng thống đắc cử Barack Obama tại Cổng Bắc của Nhà Trắng. Đệ nhất phu nhân Laura Bush đứng thứ 2 từ trái sang. Michelle Obama ở ngoài cùng bên phải. (Ảnh: Washington Post)
Barack và Michelle Obama tại Nhà thờ St. John. (Ảnh: Washington Post)
Obama và gia đình đã tham dự một buổi lễ riêng ở Nhà thờ Tân giáo St. John, một truyền thống đối với những ai sắp trở thành Tổng thống. Gia đình Phó Tổng thống đắc cử Joe Biden cũng có mặt.

Barack và Michelle Obama đã vẫy chào đám đông đón xem và bước vào nhà thờ trước sự vỗ tay tán thưởng của khoảng 200 người.

Đội hợp ca và giáo đoàn bắt đầu cất lên bài thánh ca “O God Our Help in Ages Past”.

Đức cha Luis Leon đón gia đình Obama và nói rằng tất cả các Tổng thống từ thời James Madison đều đi lễ tại nhà thờ này ít nhất một lần.

Giám mục Charles E. Blake Sr., đến từ Los Angeles, cầu chúa phù hộ cho gia đình Obama. Một mục sư khác, Joel Hunter, cầu ban phúc lành cho “Barack Hussein Obama”.

8h00

Ai cũng muốn có một chỗ tốt để được chứng kiến giờ phút lịch sử. (Ảnh: Getty)

Bên ngoài khu vực tổ chức nghi lễ nhậm chức, đông đảo người dân đã kéo đến từ sáng sớm để giành chỗ chứng kiến lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ thứ 44, bất chấp thời tiết giá lạnh.

  • Ban Quốc tế Vietnamnet (Theo BBC, CNN, AP)
Obama và Bush sánh bước ra khỏi Nhà Trắng để tới Đồi Capital. (Ảnh Reuters)

 

Phát biểu “độc” trong diễn văn nhậm chức của các TT Mỹ
16:51′ 20/01/2009 (GMT+7)

Lễ nhậm chức giúp các tổng thống Mỹ cơ hội phát biểu với người dân trên cả nước, với thế giới và lịch sử. Và đây là những trích dẫn độc đáo trong các bài phát biểu nhậm chức của một số Tổng thống Mỹ. 

George Washington (Ảnh: visitingdc)

George Washington

“Sự duy trì ngọn lửa tự do linh thiêng và vận mệnh của mẫu hình chính phủ cộng hòa được cân nhắc cẩn trọng và cuối cùng, đã được thử nghiệm để giao phó vào tay người Mỹ”.

Vị tổng thống đầu tiên của Mỹ cũng tuyên bố trong bài phát biểu năm 1789 rằng, ông sẵn sàng chấp thuận làm việc không công.

Thomas Jefferson

“Chúng ta hay suy ngẫm rằng, dù chúng ta loại bỏ khỏi đất nước sự không khoan dung tôn giáo đã khiến loài người đổ máu và tổn thương, chúng ta vẫn chỉ đạt được quá ít thành tựu nếu chúng ta vẫn ủng hộ một nền chính trị không khoan dung như chuyên chế, tội lỗi, với những cảnh cay đắng, tàn bạo”.

Lễ nhậm chức đầu tiên của Jefferson vào năm 1801, diễn ra vào thời điểm chia rẽ, hằn thù bè phái sâu rộng giữa những người chủ trương lập chế độ liên bang và những người phản đối.

James Madison

“Vì chiến tranh luôn có căn nguyên, tính tất yếu và sự cao cả, nên chúng ta có thể suy ngẫm với tinh thần tự hào rằng, chúng ta thực hiện cuộc chiến mà không vi phạm pháp luật hay tổn hại danh dự, không lợi dụng một quốc gia văn minh nào, không ảnh hưởng tới châm ngôn giáo huấn, không xâm hại loài người.

Chúng ta thực hiện chiến tranh với sự tôn trọng mọi nghĩa vụ bổn phận, trong khuôn khổ của tự do. Và kẻ thù thì ngược lại! Chúng giam giữ những công dân Mỹ như tù nhân chiến tranh, nhưng lại không tuân thủ theo các quy định thời chiến”.

Bài phát biểu của Madison năm 1813 là phát biểu tuyên thệ nhậm chức đầu tiên của một tổng thống thời chiến – thời điểm Mỹ thực hiện cuộc chiến chống Anh. 

John F Kennedy (Ảnh: amphetamines)

Andrew Jackson

“Chừng nào chính phủ của chúng ta còn được cai quản vì những gì tốt đẹp cho mọi người, và được điều chỉnh theo hướng đó; chừng nào chính phủ ấy còn đảm bảo quyền con người, quyền sở hữu, quyền tự do báo chí thì nó đang được bảo vệ”.

Jackson kết luận trong bài phát biểu nhậm chức năm 1829 rằng, không cần tới quân đội, lực lượng dân quân đã đủ để bảo vệ đất nước.

Abraham Lincoln

“Tôi không có ý định, trực tiếp hay gián tiếp can thiệp vào những bang còn tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ. Tôi tin là tôi không có quyền làm thế, và tôi cũng có khuynh hướng như vậy”.

Một số bang còn chế độ chiếm hữu nô lệ đã rút khỏi Liên bang khi Lincoln có bài phát biểu năm 1861. Cuộc nội chiến nổ ra vài tuần sau đó.

Thời điểm Lincoln tuyên thệ nhậm chức lần thứ hai năm 1865, nội chiến gần tới lúc kết thúc, Lincoln có bài phát biểu với hy vọng hàn gắn quốc gia: “Hãy làm tất cả để duy trì lòng yêu thương, và hòa bình vĩnh cửu trong chính chúng ta và trong mọi quốc gia”.

Chiến tranh kết thúc một tháng sau ngày Lincoln phát biểu nhậm chức, nhưng ông bị ám sát năm ngày sau đó.

Woodrow Wilson

“Chúng ta đã lãng phí phần lớn những gì chúng ta có thể sử dụng, chúng ta không dừng lại để bảo tồn các nguồn lợi tự nhiên. Chúng ta tự hào về những thành quả công nghiệp đạt được, nhưng chúng ta không dừng lại để thận trọng cân nhắc cái giá mà con người phải trả”.

Wilson tuyên thệ nhậm chức năm 1913 với cam kết cải tổ khi lần đầu tiên trong một thế hệ, đảng Dân chủ của ông nắm quyền kiểm soát Nhà Trắng và Quốc hội.

Franklin Roosevelt

“Điều duy nhất chúng ta phải sợ là sợ chính bản thân”. Trong bài phát biểu năm 1933, Franklin Roosevelt đã dành phần lớn thời gian để giải thích việc ông sẽ chống lại cuộc Đại Suy thoái thế nào.

Thời điểm ông nhậm chức lần hai năm 1937, đã có một số dấu hiệu phục hồi kinh tế Mỹ, tuy rằng nước này chưa hoàn toàn ra khỏi suy thoái.

John F Kennedy

John F Kennedy đảm nhận ghế Tổng thống từ năm 1961 đến khi bị ám sát năm 1963. Trong lễ nhậm chức, ông phát biểu một câu “để đời”: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn đã góp sức được gì cho Tổ quốc”.

  • Kỳ Thư (Theo BBC)

4 phản hồi

  1. thank you very much.I think you are wonderful when you share this book for everyone. I wish all of nice thing will be delivered to you.Thank thank you very very much

    Like

  2. And Thanks for your wonderful share!!!

    Like

  3. More wonderful than its real meaning

    Like

  4. cuộc sống thật tuyệt vời

    Like

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: