Xóa cảnh “làm khó để ló ra tiền”


Cơ chế không minh bạch, chồng chéo chức năng thẩm quyền, trách nhiệm tập thể cá nhân không rõ ràng, công chức lương không đủ sống … là nguyên nhân chủ yếu dễ đưa đến nạn nhũng nhiễu, thường gọi là “làm khó để ló ra tiền”.

Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn riêng của TS Diệp Văn Sơn, chuyên gia cải cách hành chính.

Giữ quyền lực nhưng không có năng lực

Còn nhớ tại Hội nghị triển khai công tác tổ chức nhà nước năm 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Bộ Nội vụ khẩn trương nghiên cứu các chính sách về đãi ngộ nhằm khuyến khích công chức, viên chức nhà nước đi sâu vào chuyên môn, không nên khuyến khích công chức, viên chức phấn đấu để có chức vụ cao trong bộ máy hành chính.

Thế nhưng, thực tế, thang lương chưa thể hiện rõ sự công bằng trong đãi ngộ lao động, ít khuyến khích tài năng, ít đột xuất, thường cứ “đến hẹn lại lên “, dựa trên cấp bậc chính quyền.

Khỏi cần nhắc lại cũng thấy rằng thang bảng lương trước đây hầu như xây dựng dựa trên cấp bậc chính quyền, cấp bậc hành chính. Điều này vô hình trung khuyến khích công chức phấn đấu đạt được các chức vụ.

Công chức lo ghế. Ảnh: An ninh Thủ đô

Việc cố gắng “leo cao” dẫn đến không biết bao nhiêu hệ lụy: nạn bè phái, ô dù, mất đoàn kết, đấu đá, tranh giành, tham nhũng, bằng cấp giả, chạy chọt… khiến bộ máy Nhà nước tồn tại những quan chức có quyền lực nhưng không có năng lực.

Bên cạnh đấy, tuyệt đại bộ phận những người thừa hành công vụ (được coi là chuyên viên) thiếu an tâm, không được khuyến khích đi sâu vào chuyên môn, làm ăn vật vờ… Điều này đưa đến hậu quả rất dễ thấy là trong các ngành hiện nay rất hiếm các chuyên gia giỏi thật sự. Sự hụt hẫng này là một trong những nguyên nhân quan trọng kìm hãm sự phát triển của đất nước, nhất là yêu cầu hội nhập.

Chính sách tiền lương góp phần làm cho chính sách phát hiện, sử dụng, đãi ngộ nhân tài lâu nay chúng ta thực hiện rất kém.

Nhìn rộng hơn qua việc đào tạo nguồn nhân lực nói chung, có thể thấy một bức tranh toàn cảnh không mấy sáng sủa. Sau khi gia nhập WTO làn sóng đầu tư bùng nổ  rất thiếu các chuyên gia giỏi và thợ lành nghề. Đào tạo không chú ý đến định hướng đầu ra, đến nhu cầu của thị trường nhân lực.  “Thầy nhiều hơn thợ”, mà thật ra “thầy cũng chẳng ra thầy”, là hệ quả của việc khuyến khích chạy theo bằng cấp của nền giáo dục mang nặng tính chất khoa cử.

Trước đòi hỏi của xã hội, nhà nước và trong mỗi người dân cần phải điều chỉnh những đánh giá về thang giá trị.

Hơn nữa, chế độ lương cũng không phản ảnh tương xứng mức tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội chia cho đầu người. Từ năm 1995 .GDP là 289USD năm/ người trong khi đó năm 2009 GDP là 1028 USD/người.So với lộ trình tăng lương lâu nay, chúng ta thấy của cải làm ra của toàn xã hội chưa được phân phối lại thỏa đáng cho những người trực tiếp và gián tiếp làm ra của cải ấy.

Dẫu biết rằng còn có nhu cầu về quốc phòng, an ninh, bảo đảm phúc lợi cho toàn xã hội, tích lũy cho nền kinh tế…, vấn đề ở đây là chưa có một tỷ lệ phân bổ các nhu cầu một cách hợp lý để tái sản xuất sức lao động hay nếu coi đầu tư cho lương là đầu tư cho phát triển.

Làm khó để ló ra tiền

Thực tế, tuyệt đại đa số những người liêm chính ăn lương Nhà nước thì không ai có thể sống bằng lương. Nhiều nhận xét có tính tổng kết, chính nền hành chính cơ chế không minh bạch, chồng chéo chức năng thẩm quyền, trách nhiệm tập thể cá nhân không rõ ràng, công chức lương không đủ sống… là nguyên nhân  chủ yếu đưa đến nạn nhũng nhiễu, thường gọi là “làm khó để ló ra tiền“, “tham ô tập thể” ….

Trong nhiều văn kiện Đảng và Nhà nước đánh giá có một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức thoái hoá biến chất gây nhũng nhiễu phiền hà cho công dân và doanh nghiệp cộng với một bộ phận năng lực yếu kém không đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá, của thời mở cửa hội nhập.

Một trong những rào cản kìm hãm sự phát triển lâu nay là những bất cập trong bộ máy hành chính nhà nước, mà “thủ phạm” trong bộ máy đó không ai khác là các cán bộ, công chức thoái hoá, gây phiền hà, nhũng nhiễu tham nhũng, kể cả cán bộ, công chức kém năng lực.

Nói đi thì phải nói lại, chính công chức lại một lúc nào đó, hoàn cảnh nào đó, lại là “nạn nhân” chính đồng nghiệp của họ ở ngành khác gây ra, hoặc do cơ chế chính họ đặt ra. Họ vừa là “thủ phạm” vừa là “nạn nhân”.

Khoản ngoài lương và đặc lợi

Hơn nữa, ngoài việc chưa thoát khỏi tư duy bao cấp, tư duy phân phối theo lối tiểu nông, hình như bộ máy làm chế độ lương do những người không sống thật bằng lương điều hành hay chí ít là đề xuất.

Một chứng minh rõ nhất, nhiều cuộc hội thảo  về chống lãng phí thực hành tiết kiệm, nhiều ý kiến nhắc đến vấn nạn lãng phí hiện nay, trong đó nói nhiều chuyện xe công phục vụ riêng.  Nhiều vị chức sắc phát biểu hùng hồn rằng, nếu đưa tiêu chuẩn xe công, vài chục triệu đồng tháng vào lương, thì sẵn sàng bắt xe ôm, thậm chí đi xe đạp đi làm! Thế nhưng, nếu nhớ lại khi bàn chế độ chính sách, nhiều vị phát biểu rằng, cấp xe riêng để hoạt động công vụ là tạo điều kiện hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ sức khỏe để làm việc cống hiến lâu dài, công việc sẽ chất lượng hơn… trăm ngàn lý do nghe có lý !

Dường như có sự “vênh” nhau giữa suy nghĩ thực và phát biểu có màu sắc ngụy biện. Rõ ràng nếu đưa tiêu chuẩn xe vào lương không ổn. Sẽ có sự chênh lệch quá mức khó lý giải bằng thành quả lao động hay chỉ là cố tình bảo vệ đặc quyền, đặc lợi.

Không biết cái gì gọi là “tiêu chuẩn” về chế độ chính sách lấy đâu ra, dựa trên cơ sở khoa học nào, thực tiễn của trình độ phát triển của nền kinh tế đến đâu, kể cả đạo lý nữa, mà quy định cấp này có xe riêng, cấp kia có nhà riêng, tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn nọ…

Chỉ khi thực hiện “tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương” sẽ chấm dứt được các loại tiêu chuẩn đặc quyền đặc lợi (thành văn hay bất thành văn) của một nhóm quan chức.

Tư duy về chế độ của quan chức đổi chậm

Từ khi bắt đầu đổi mới đến nay, có ít nhất không dưới bốn lần cải cách chế độ tiền lương. Nhớ lại trong các lần hội thảo góp ý cho dự thảo cải cách chế độ tiền lương nhiều ý kiến góp ý cần phải tiền tệ hoá các chế độ của công chức vào lương. Thế nhưng góp ý thì nhiều, nhiều tâm huyết, đầy đủ các luận cứ khoa học, tính khả thi cao… Tuy nhiên hầu như đều không được tiếp thu đưa vào đề án!?

Có thể nói, nguyên nhân của những thành công của công cuộc đổi mới là thay đổi tư duy. Từ tư duy kế hoạch tập trung bao cấp chuyển sang tư duy kinh tế thị trường có định hướng. Thế nhưng tư duy bao cấp về chế độ của quan chức đối với xe công, nhà cửa, điện thoại, khám chữa bệnh… thật chậm thay đổi thay đổi theo hướng tiền tệ hoá, thị trường hoá.

Cần phải làm minh bạch rạch ròi, cỡ cấp nào xứng đáng có tiêu chuẩn, tiêu chuẩn cao cũng được, thì phải cung cấp đầy đủ không tiếc, dân rất công bằng, nhưng tránh ăn theo, bao cấp tràn lan, thậm thụt đề ra tiêu chuẩn này tiêu chuẩn nọ thành văn hay bất thành văn để cùng hưởng.

Hơn nữa, biết đâu từ các tiêu chuẩn này mà kéo theo tệ nạn chạy chức, chạy quyền, phe cánh, đấu đá xào xáo nội bộ…

Bên cạnh có chính sách đãi ngộ thoả đáng cho công chức chuyên môn nghiệp vụ tinh thông, cộng với các biện pháp minh bạch công khai thu nhập tài sản của công chức các cấp, tăng cường tinh thần trách nhiệm cá nhân trong thực thi và điều hành công vụ thì nhất định sẽ giảm bớt những ham hố đeo đuổi con đường quan trường mà lơ là nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

Xã hội hoá việc phục vụ cho cơ quan công quyền?

“Đặc quyền đặc lợi” là “chất men” kích thích mạnh mẽ sự định hướng cho mỗi cá thể hướng theo con đường quan trường. Đảm bảo “tương quan hợp lý” của hệ thống thang bậc lương sẽ làm cho bộ phận đông đảo cán bộ công chức, viên chức cần cù yên tâm dồn hết tâm chí nâng cao trình độ chuyên môn, đi đúng quy luật “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”.

Khi thực hiện khoán biên chế và kinh phí hoạt động hành chính, siết chặt định mức công khai việc sử dụng xăng xe, nhiều cơ quan sở ngành tiết kiệm đến 1/3 xăng dầu… Phần tiết kiệm đưa thêm vào thu nhập cũng là một giải pháp tạo động lực để thực hành tiết kiệm.

Tuy nhiên suy cho cùng cũng chỉ là giải pháp tình thế. Cần suy nghĩ một giải pháp bền vững căn cơ hơn. Nên chăng thành lập các Công ty dịch vụ phục vụ hoạt động hậu cần cho các cơ quan hành chính. Kinh phí hoạt động hành chính đưa qua công ty này. Cơ quan có nhu cầu xe cộ ký hợp đồng với công ty, công ty bảo đảm phục vụ đầy đủ các nhu cầu công vụ để cho các đồng chí từ có tiêu chuẩn xe con, đến các cá nhân tập thể có nhu cầu đi công tác cần dùng xe… làm như vậy sẽ tiết kiệm nhiều, tránh tình trạng lạm dụng biến xe công thành xe riêng. Ngoài ra giảm được biên chế lái xe.

Hơn nữa nếu thực hiện phương thức hợp đồng với công ty dịch vụ đối với các việc như vệ sinh, bảo vệ, chăm sóc cây xanh, bảo trì điện nước, căng tin, bếp ăn… thì cũng sẽ giảm được bộ phận quản trị của cơ quan. Đây là một xu thế xã hội hóa bước đầu đối với việc phục vụ hoạt động cho các cơ quan hoạt động công vụ.

Thiết nghĩ việc xã hội hoá công tác phục vụ cho các cơ quan công quyền hoạt động là góp phần quản lý tài sản công có hiệu quả, ngăn ngừa tệ tham nhũng trá hình, giảm đặc quyền đặc lợi, tạo công bằng xã hội.

Tác giả: Diệp Văn Sơn/ Tuanvietnam
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: