Hội nhập toàn diện và bình thường hóa khái niệm nhạy cảm


“Việt Nam bước vào năm 2011 với Đại hội Đảng XI, và về đường lối, chính sách có rất nhiều điểm mới. Riêng về đối ngoại có một sự thay đổi về chất là Đảng ta từ chỗ tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chuyển sang tích cực chủ động hội nhập quốc tế”, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm thông báo với những người tham dự buổi liên hoan tổng kết năm đối ngoại 2010 của Việt Nam, được tổ chức vào ngày cuối cùng của năm ngoái.

Hội nhập quốc tế toàn diện

Theo vị Uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách ngành đối ngoại của Việt Nam, “đó là một bước ngoặt thay đổi về chất trong chính sách đối ngoại của chúng ta, bởi “hội nhập quốc tế tức là hội nhập toàn diện, gồm chính trị, an ninh quốc phòng văn hóa, giáo dục…

Có thể nói, trước hết, đó là ý chí và niềm tin của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, dựa trên những thành tựu đạt được, sau một phần tư thập kỷ kiên trì đường lối đổi mới, được khởi động từ Đại hội lần thứ 6 của Đảng Cộng sản Việt Nam, với những bước hội nhập theo một lộ trình từ thấp đến cao hơn, cũng như như những kinh nghiệm bỏ lỡ cơ hội do sự do dự, hay vấp váp. Từ việc bình thường hoá quan hệ, bắt đầu cách đây hai mươi năm, với những quốc gia đã từng gây chiến với Việt Nam, đến việc tham gia vào các thể chế từ khu vực nhỏ (ASEAN, AFTA), khu vực lớn hơn (APEC, ASEM), đến toàn cầu (Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới).

“Sau khi Việt Nam đổi mới thành công, bạn bè trên thế giới càng khâm phục Việt Nam. Nếu trước đây là vượt qua những đế quốc to, thì lần này đã dám vượt qua chính mình để đi lên. Họ nhìn Việt Nam bằng double (gấp đôi) cái suy nghĩ của họ trước kia”, ông Phạm Gia Khiêm nhấn mạnh.

Có thể hiểu niềm tin của người đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam rằng Việt Nam sẽ càng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của bạn bè trên thế giới, được hiểu theo phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả”, nếu tiếp tục vững bước trên con đường tiếp tục đổi mới, cải cách toàn diện.

Những công việc sắp tới trong việc cụ thể hoá đường lối hội nhập quốc tế một cách toàn diện, theo ông Phạm Gia Khiêm, bao gồm việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Vatican, tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc, thúc đẩy việc đàm phán ký kết hiệp định đối tác xuyên quốc gia (TPP). Đặc biệt là là xúc tiến bàn thảo nâng quan hệ với Pháp và Mỹ lên tầm đối tác chiến lược.

Sau chúng ta khi ký xong (Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược) với Anh rồi, Pháp đã bật đèn xanh về ký đối tác chiến lược với Việt Nam. Bà Hilary Clinton (người trong phát biểu vào cuối  tháng 10.2010 tại Hà Nội đã nhấn mạnh tới  ba tốt – bạn bè tốt, láng giềng tốt và đối tác tốt – trong quan hệ Mỹ – Việt – NV) nói rằng Mỹ sẵn sàng cùng với Việt Nam nghĩ tới việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược”, ông Phạm Gia Khiêm giải thích, và lưu ý rằng, như vậy, Việt Nam sẽ có quan hệ đối tác chiến lược với cả 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (bên phải)

Để có được ý chí và niềm tin nêu trên trên bước đường hội nhập sắp tới, không thể không nhắc tới vai trò nổi bật của ngành ngoại giao Việt Nam – luôn lãnh trọng trách tiên phong trong tiến trình hội nhập suốt 25 năm qua, đặc biệt là trong nhiệm kỳ vừa rồi với đỉnh cao là năm 2010. Ông Phạm Gia khiêm khẳng định: “Về ngoại giao chính trị, nói một cách khiêm tốn, chúng ta đã hoàn thành một cách xuất sắc năm chủ tịch ASEAN”.

Người đứng đầu ngành ngoại giao Việt Nam không hề nói quá. Giới lãnh đạo, ngoại giao, học giả và truyền thông ngoài nước đều đánh giá như vậy. Bài bình luận của Báo The Nation (Thailand) mang tiêu đề “Vai trò lãnh đạo ASEAN của Việt Nam là bài học cho tất cả“, đã nêu ra sáu thành công lớn của ASEAN trong năm 2010 mang đậm dấu ấn của Việt Nam.

Theo quan điểm riêng của người viết, ngoài tiếng thơm như một lẽ tất nhiên, Việt Nam cũng có phần chia của mình trong chính bài học này. Nhất là đối với đường lối, chính sách cho giai đoạn phát triển sắp tới mà Đại hội Đảng XI đang bàn thảo. Cách tiếp cận và giải pháp cho vấn đề Biển Đông và Myanmar là hai ví dụ tiêu biểu nhất.

Bình thường hóa khái niệm “nhạy cảm”

Về Biển Đông, tác giả bài báo viết: “Rõ ràng các tranh cãi rộng rãi về sự nóng lên của vấn đề Biển Đông trong ba tháng đã giúp nâng cao vị thế quốc tế của ASEAN và làm nổi bật vấn đê Biển Đông, tạo ra một môi trường chiến lược mới cho phép mọi đối tác có thể tham gia và cho phép một sự tiếp cận đa phương về các vấn đề liên quan đến tự do và an toàn hàng hải.”

Quả vậy, với việc vấn đề Biển Đông được đề cập, dù là chính thức hay không chính thức, tại các diễn đàn của ASEAN và với nòng cốt là ASEAN trong năm 2010, rõ ràng ASEAN đã đỡ bị mang cái mặc cảm là một “talk shop”, theo cách nói của phương Tây, hay “hội đồng chuột”, theo cách nói của Việt Nam. Mặc dù, ít người mơ hồ rằng việc triển khai DOC sẽ được nhanh chóng khởi động. Và COC thì còn xa vời hơn.

Bởi, đúng như tác giả bài báo viết, “… tuyên bố ứng xử biển đông (DOC) mà ASEAN và Trung Quốc từng nhất trí đã bị chìm lắng suốt 8 năm qua”.

Để nhận được lời khen ngợi xác đáng này, thách thức đầu tiên mà các nhà lãnh đạo Việt Nam phải vượt qua chính là khía cạnh “nhạy cảm” của vấn đề Biển Đông này.

“Nói tới Biển Đông, nhiều khi người ta nghĩ nó nhạy cảm”, phát ngôn viên của chủ tịch ASEAN 2010 Trần Ngọc An thừa nhận, cho dù vẫn giải thích rằng vấn đề Biển Đông không phải chỉ đến khi Việt Nam làm chủ tịch mới được nêu lên. Mặc dù, ông An không nói rõ “người ta” bao gồm những ai, nhưng những người theo dõi sát sao vấn đề này có thể hiểu rằng, không loại trừ tâm lý coi vấn đề này là “nhạy cảm” tồn tại cả ở Việt Nam.

Ông An cho biết, trước hết, các nhà ngoại giao Việt Nam đã chủ động trao đổi trong ASEAN như một điều bình thường phải bàn. “Những nước có liên quan trực tiếp (nhóm ASEAN biển đảo – NV) thì hiểu, nhưng những nước không liên quan (nhóm ASEAN lục địa – NV) thì e dè. Nhưng khi chúng ta giải thích rõ ràng thì họ hiểu và thông cảm”, ông An nói.

Thủ tướng TQ Ôn Gia Bảo cam kết giải quyết dứt điểm vấn đề ngư dân. Ảnh: THX

Sau khi đạt được sự đồng thuận cao trong ASEAN tại Cấp cao ASEAN 16 (4.2010), chính các quốc gia khác, kể cả trong và ngoài khu vực, chứ không phải Việt Nam, đã chủ động nêu vấn đề này ra tại ARF 17 (tháng 7.2010), và tiếp sau đó tại ADMM+ (10.2010). Công việc của Việt Nam, bao gồm cả các nhà ngoại giao và các nhà đối ngoại quốc phòng, chỉ là giải thích với tất cả các đối tác, kể cả Trung Quốc, theo lời ông An, rằng “hoà bình, ổn định, tự do và an ninh hàng hải ở khu vực Biển Đông là mối quan tâm chung của các khu vực, là nhiệm vụ chung của tất cả các nước trong khu vực, và các nước lớn cũng phải có đóng góp vào để duy trì hoà bình ổn định mà phát triển”.

“Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn thứ hai thế giới, và vì vậy họ chính là nước được hưởng lợi rất lớn từ hòa bình, ổn định, tự do và an ninh hàng hải ở Biển Đông”, ông An nêu lại lập luận của giới đối ngoại Việt Nam.

Người Việt Nam có câu: “Nói phải củ cải cũng nghe“. Huống hồ…

Theo ông An, sự điều chỉnh thái độ của Trung Quốc tại Cấp cao ASEAN 17 so với ARF 17 cho thấy cường quốc này cũng nhận thấy sự phản ứng thái quá trước yêu cầu mềm mỏng, nhưng kiên quyết của một ASEAN đồng thuận với sự ủng hộ của các quốc gia có lợi ích và tiếng nói từ bên ngoài như Mỹ, Nga, Nhật, hay Hàn Quốc, đã có tác dụng ngược. Và Thủ tướng Ôn Gia Bảo cuối cùng đã cam kết với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong cuộc hội đàm song phương bên lề ASEAN 17, về việc giải quyết dứt điểm vấn đề ngư dân – một vấn đề không lớn trong trong quan hệ song phương liên quan đến tranh chấp Biển Đông, nhưng lại đầy “nhạy cảm”.

Dư luận bên ngoài còn nói rằng bản thân chuyện phản ứng thái quá, chính Trung Quốc là nước đã quốc tế hoá vấn đề Biển Đông, chứ không phải ASEAN, hay Chủ tịch Việt Nam”, ông Trần Ngọc An lưu ý.

Cần nói thêm rằng chính sự quan tâm ngày càng tăng của bên ngoài đối với khu vực Biển Đông cũng là một thách thức khác mà nước Chủ tịch ASEAN 2010 phải vượt qua. Mặc dù, trước đó, điều này được coi là một thuận lợi để vấn đề Biển Đông được nêu ra công khai tại các diễn đàn.

Làm sao phải xử lý hài hoà và cân bằng để các nước vẫn quan tâm đến ASEAN, nhưng không biến ASEAN, hay khu vực Biển Đông, thành võ đài để họ đấu đá nhau. Trong suốt một năm chúng ta phải nỗ lực giữ vai trò trung tâm của ASEAN mà không bị lôi kéo theo phía này, hoặc phía kia, đồng thời vẫn giữ được họ trên bàn thảo luận hợp tác. Đó là cái khéo léo của năm chủ tịch của Việt Nam”, ông Trần Ngọc An nhìn nhận.

Còn Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm thì khái quát: “Thành công đối ngoại có nhiều lý do, nhưng tôi phải khẳng định điều kiện tiên quyết là thực hiện đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng ta là độc lập tự chủ, Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế. Lịch sử chứng minh rằng chừng nào Việt Nam còn nghiêng ngả về phe này phe nọ, chúng ta có thất bại.”

Vẫn phải có thời gian để có thể kiểm nghiệm xem đường lối đối ngoại này được thực thi như thế nào. Nhưng người ta vẫn có thể có niềm tin, hoặc chí ít là niềm hy vọng, rằng Việt Nam phải quá lo lắng trước nguy cơ “trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”, khi quan hệ giữa hai cường quốc là Mỹ và Trung Quốc trở nên căng thẳng như trong năm 2010, hay gật mình thon thót với hiểm hoạ bị “thỏa thuận trên lưng”, khi quan hệ giữa họ ấm dần trở lại vào những ngày đầu năm 2011 này. Tuy cảnh giác bao giờ cũng là một điều cần thiết, nhất là với một nước đã hơn một lần lâm vào cảnh như vậy.

Dân chủ, nhân quyền

Về vấn đề bầu cử ở Myanmar, tác giả bài báo nhận xét: “…các nước thành viên đều phải thừa nhận nước chủ nhà Việt Nam đã khéo léo giúp hạ thấp các cuộc thảo luận về khủng hoảng chính trị ở Mianma bằng cách dấy lên mối lo ngại về Biển Đông. Năm ngoái, với vai trò nước chủ nhà, Thailand đã chịu nhiều áp lực tuân thủ các tiêu chuẩn và thông lệ ASEAN. Thực ra, tại hội nghị năm nay các nhà lãnh đạo ASEAN có thể đã tạo ra được một áp lực lớn hơn đòi đưa các nhà quan sát bầu cử tới Myanmar nếu như nước chủ nhà đi đầu với một lập trường mạnh mẽ hơn.”

Mặc dù có thể không hoàn toàn đồng ý với tác giả bài viết về nhận định, ông Trần Ngọc An cũng công nhận rằng “xử lý quan hệ của các nước cho ổn cũng là một thành công của Việt Nam đối với vấn đề Myanmar.” Vị vụ phó Vụ ASEAN, Bộ Ngoại giao, đã giải thích rằng Việt Nam đã sáng suốt lấy mục tiêu đoàn kết ASEAN làm nền tảng, và các nguyên tắc của ASEAN, như không can thiệp vào công việc nội bộ, hay tham vấn, làm phương cách hành động.

Bỏ phiếu bầu cử tại Myanmar (Ảnh: AFP)

Có một điều tác giả bài báo không đề cập tới, và ông Trần Ngọc An cũng không đủ thời gian giải thích với phóng viên Tuần Việt Nam, nhưng qua kinh nghiệm của mình, có một điều Việt Nam hoàn toàn chia sẻ với Myanmar – quốc gia chia sẻ không ít tương đồng với Việt Nam trong quá trình phát triển. Đó là mọi mầm mống, hay sự khởi đầu đáng hy vọng, của những giá trị tiến bộ chung trong tiến trình phát triển đều có thể bị vô hiệu hoá, nếu nhà cầm quyền sở tại cảm thấy rằng sự áp đặt quá mạnh từ bên ngoài có thể thách thức vị thế lãnh đạo của họ.

“Già néo, đứt dây”, hay “dục tốc bất đạt”, người Việt Nam hay nói vậy trong những trường hợp tương tự. Và họ đã giúp Myanmar theo đúng cái cách mà họ đang trải nghiệm. Tức là đổi mới kinh tế thành công sẽ cơ sở thuận lợi và yêu cầu bức thiết cho đổi mới chính trị và xã hội. Như những gì đang được kỳ vọng tại Đại hội lần thứ XI này của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo Tuanvietnam 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: