Việt Nam thiếu ngân hàng cột trụ quốc gia


 

 

 

Ông Keith Pogson, CEO Dịch vụ tài chính ngân hàng của Ernst & Young châu Á – Thái Bình Dương, cho rằng vấn đề của Việt Nam là có quá nhiều ngân hàng nhỏ trong khi chưa tổ chức nào đủ lớn để dẫn đầu thị trường


Từng nhiều năm tham gia tư vấn vào quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia… , ông Keith Pogson khuyến nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên áp dụng từ từ các biện pháp tái cấu trúc để tránh những bước đi quá sốc và giữ niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng.

Ông Keith Pogson (trái) cho rằng chưa nhìn thấy ngân hàng nào có quy mô lớn và dẫn đầu thị trường một cách rõ rệt. Ảnh: Thanh Lan.

– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa phân chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo 4 nhóm cho các ngân hàng. Trên thế giới, Ngân hàng Trung ương các nước có làm như vậy không?

– Những quốc gia khác, các ngân hàng trung ương cũng làm như vậy. Trung Quốc cũng kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Công thức thông thường là nếu nền kinh tế tăng trưởng GDP tốc độ bao nhiêu thì tín dụng được phép tăng trưởng gấp 2,5 lần. Ví dụ nếu GDP trên 5% thì tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế khoảng hơn 12,5%.

Trong hơn hai năm qua, nền kinh tế Việt Nam gặp một vấn đề khó khăn là lạm phát. Đóng góp vào đó một phần do việc tăng trưởng tín dụng quá “nóng”. Do đó, việc nhà điều hành muốn nắn lại là dễ hiểu bởi một mũi tên trúng được hai đích. Biện pháp này vừa kiểm soát được lạm phát vừa bảo vệ được người gửi tiền. Người dân sẽ không phải gửi tiền vào những ngân hàng yếu.

– Ông thấy bối cảnh tái cấu trúc hệ thống ngân hàng ở Việt Nam giống và khác các nước trong khu vực như thế nào?

– Tôi đã có kinh nghiệm tham gia vào quá trình tái cấu trúc rất nhiều quốc gia trong khu vực nhưng không ở đâu có hoàn cảnh giống Việt Nam. Theo tôi, mỗi quốc gia chỉ nên có 3-5 nhà băng lớn làm trụ cột cho cả hệ thống.

Trong khi đó, Việt Nam lại có quá nhiều ngân hàng nhỏ nhưng chưa đơn vị nào lớn và dẫn đầu hệ thống một cách rõ rệt. Như Trung Quốc, khi tái cấu trúc, họ đã có sẵn những ngân hàng quy mô lớn, chỉ có điều các tổ chức này lại hoạt động không hiệu quả.

– Vậy theo ông, Việt Nam nên tái cấu trúc hệ thống ngân hàng theo hướng nào để hiệu quả?

– Do có quá nhiều ngân hàng nhỏ nên tôi khuyến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước cần hỗ trợ quá trình mua bán – sáp nhập nhóm này. Đây là xu thế tích cực và nên được tạo điều kiện. Ví dụ như về mặt chính sách, khi tiến hành hợp nhất, ngân hàng không phải chịu thêm các khoản thuế. Việc phải đóng thuế có thể làm giảm động cơ sáp nhập tự nguyện của họ. Đi kèm với đó là xây dựng ngân hàng trụ cột, quy mô lớn cho quốc gia.

Ngoài ra phải xử lý dứt điểm vấn đề nợ xấu, nợ dưới chuẩn. Có quá nhiều nợ xấu, lãnh đạo các ngân hàng thường lao tâm khổ tứ với việc giải quyết chúng như thế nào thay vì tập trung phát triển các lĩnh vực hoạt động để đóng góp có lợi cho nền kinh tế.

– Từng trực tiếp tham gia quá trình tái cấu trúc ở Trung Quốc, ông thấy Trung Quốc xử lý nợ xấu như thế nào?

– Như tôi đã nói, Trung Quốc có sẵn những ngân hàng lớn về quy mô nhưng lại hoạt động không khỏe mạnh. Trong giai đoạn khủng hoảng 1999-2001, Trung Quốc giải quyết nợ xấu bằng cách cho phép thành lập những ngân hàng, công ty chuyên xử lý nợ xấu (gọi là bad-bank). Các tổ chức này được trao một quyền ngoại lệ đặc biệt để xử lý, mua lại nợ xấu hoặc thậm chí đầu tư và sinh lời từ đó.

Nhiều nợ xấu khiến lãnh đạo các ngân hàng phải “lao tâm khổ tứ” đối phó thay vì lo phát triển đơn vị. Ảnh: Hoàng Hà.

– Tại Trung Quốc và các nước trong khu vực, theo kinh nghiệm của ông, những bước đi nào được xem là quyết định đến sự thành công của tái cấu trúc ngân hàng?

– Bước đầu tiên là phải giải quyết dứt điểm nợ xấu. Tiếp đến là cải tổ ban lãnh đạo, nâng cao phương thức quản trị ngân hàng. Một hướng nữa tôi cho rằng đã khá thành công ở Trung Quốc và một số nước là yêu cầu các ngân hàng niêm yết một phần trên thị trường chứng khoán trong nước hoặc thậm chí ra các thị trường khác trong khu vực. Việc này nhằm hai mục đích, vừa để họ tăng vốn vừa để giúp họ hòa nhập, tăng tính minh bạch và tuân thủ dần các chuẩn mực quốc tế.

Bên cạnh đó, việc thu hút đầu tư, mua bán sáp nhập từ nước ngoài vào thị trường ngân hàng trong bối cảnh hiện nay cũng là một biện pháp đáng lưu tâm.

– Ông đánh giá thế nào về việc các tổ chức tín dụng nước ngoài mua cổ phần ngân hàng tại Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc hiện nay?

– Hệ thống ngân hàng Việt Nam đang khá phân tán, gồm nhiều đơn vị nhỏ lẻ và thị trường chưa thực sự xác lập một ngân hàng nào thống trị, chi phối rõ rệt. Do đó, cơ hội cạnh tranh để trở thành nhà băng lớn vẫn còn hé mở cho các nhà đầu tư nước ngoài. Xu hướng mua bán – sáp nhập ngân hàng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam đang rất rõ ràng.

Theo VNE

Advertisements

3 phản hồi

  1. Ngày 23/5/2012, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 83/2012/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường.

    Theo thông tư trên, thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng (VAT) của tháng 4, 5, 6/2012 (không bao gồm thuế VAT ở khâu nhập khẩu) được gia hạn 6 tháng đối với các doanh nghiệp đang thực hiện nộp thuế VAT theo phương pháp khấu trừ, xác định theo các phân nhóm khác nhau.

    Các nhóm được gia hạn gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả hợp tác xã, không bao gồm doanh nghiệp nhỏ và vừa kinh doanh trong các lĩnh vực: xổ số, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và doanh nghiệp được xếp hạng 1, hạng đặc biệt thuộc các tập đoàn kinh tế, tổng công ty; doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến: nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử; xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế – xã hội có sử dụng nhiều lao động.

    Theo đó, thời hạn nộp thuế VAT tháng 4/2012 chậm nhất là ngày 20/11/2012; tháng 5/2012 chậm nhất là ngày 20/12/2012; tháng 6/2012 chậm nhất là ngày 21/01/2013.

    Thông tư cũng quy định cụ thể về giảm tiền thuê đất; gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế môn bài đối với hộ đánh bắt hải sản và hộ sản xuất muối; gia hạn nộp tiền sử dụng đất.

    Cụ thể, tiền thuê đất phải nộp của năm 2012 được giảm 50% đối với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đang được nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm mà đơn giá thuê đất được áp dụng theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010 của Chính phủ.

    Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2011 của doanh nghiệp nhỏ và vừa (trừ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản); doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến: nông sản, lâm sản, thuỷ sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử; xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế – xã hội có sử dụng nhiều lao động được thực hiện gia hạn nộp thuế theo Quyết định số 21/2011/QĐ-TTg, Quyết định số 54/2011/QĐ-TTg, Quyết định số 04/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

    Miễn thuế môn bài năm 2012 đối với hộ đánh bắt hải sản. Trường hợp người nộp thuế thuộc diện được miễn thuế đã nộp thuế môn bài năm 2012 thì được ngân sách nhà nước hoàn trả số thuế đã nộp. Đối với hộ sản xuất muối tiếp tục miễn thuế môn bài theo quy định tại điểm 3 Thông tư số 42/2003/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 96/2002/TT-BTC ngày 24/10/2002 của Bộ Tài chính.

    Đối tượng áp dụng gia hạn nộp tiền sử dụng đất là các tổ chức kinh tế, các chủ đầu tư dự án có nghĩa vụ phải nộp tiền sử dụng đất theo thông báo của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan có thẩm quyền nhưng đến ngày 10/5/2012 chưa nộp hoặc chưa nộp đủ thì thời gian gia hạn nộp tiền sử dụng đất tối đa 12 tháng theo quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh và được tính từ ngày 10/5/2012.

    Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày ký (23/5/2012). Các tổ chức kinh tế là các chủ đầu tư dự án có nghĩa vụ phải nộp tiền sử dụng đất phát sinh sau ngày 10/5/2012 đến ngày 31/12/2012 theo thông báo của cơ quan thuế hoặc văn bản của cơ quan có thẩm quyền thì thời gian gia hạn nộp tiền sử dụng đất tối đa 12 tháng theo quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Đối với thuế VAT ở khâu nhập khẩu của thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tư xây dựng thuộc loại trong nước chưa sản xuất được cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp tiếp tục thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 92/2010/TT-BTC ngày 17/6/2010 của Bộ Tài chính

    Số lượt thích

  2. Long time not to sê you. How are you going?

    Số lượt thích

  3. Well note

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: