Áp dụng ISBP 745 để đề xuất Checklist đảm bảo việc xuất trình chứng từ hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C.


Theo định nghĩa trong UCP600, Tín dụng chứng từ còn được gọi là thư tín dụng (L/C) là một cam kết, theo đó ngân hàng phát hành sẽ hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của người yêu cầu mở thư tín dụng hoặc cho chính mình:

1. Thực hiện việc thanh toán hoặc theo lệnh của một bên thứ ba (người thụ hưởng thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thụ hưởng ký phát.
2. Ùy quyền cho một ngân hàng khác thực hiện việc thanh toán hoặc chấp nhận và thanh toán hối phiếu.
3. Ủy quyền cho một ngân hàng khác thương lượng bộ chứng từ với điều kiện là các điều khoản của thư tín dụng được hoàn toàn tuân thủ.

Trong những năm gần đây, khi cuộc khủng hoảng tài chính có ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại quốc tế, thư tín dụng phát huy đúng giá trị của nó, đó là một công cụ thanh toán bảo đảm quyền lợi cho người bán khi mà rủi ro không thanh toán của người mua đã được ngân hàng phát hành đứng ra bảo lãnh.
Tuy nhiên, nét đặc trưng cơ bản của tín dụng chứng từ đó là nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng độc lập với hợp đồng mua bán đã ký giữa người thụ hưởng (nhà xuất khẩu) và người yêu cầu mở thư tín dụng (nhà nhập khẩu). Điều 4 (a) UCP 600 đã quy định rõ “bản chất của thư tín dụng là một giao dịch riêng biệt với hợp đồng mua bán. Các ngân hàng hoàn toàn không liên quan hoặc không bị ràng buộc với hợp đồng mua bán, ngay cả khi có sự tham chiếu đến hợp đồng trong thư tín dụng. Do đó, các cam kết thanh toán, thương lượng hoặc thực hiện nghĩa vụ khác của ngân hàng theo quy định của thư tín dụng không phụ thuộc vào sự khiếu nại của người yêu cầu mở tín dụng thư phát sinh từ mối quan hệ với ngân hàng phát hành hoặc với người thụ hưởng thư tín dụng. Trong mọi trường hợp, người thụ hưởng không được lợi dụng mối quan hệ giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân hàng phát hành với người mở thư tín dụng”. Ngoài ra, theo quy định thêm tại Điều 5 của UCP 600, các ngân hàng chỉ làm việc dựa trên chứng từ, họ không quan tâm đến hàng hóa.
Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành đối với người thụ hưởng được quy định rõ bởi các điều khoản của thư tín dụng và không liên quan gì đến hợp đồng mua bán. Nếu các chứng từ xuất trình tuân thủ đúng các quy định của L/C thì ngân hàng phát hành có nghĩa vụ thanh toán tiền cho người thụ hưởng. Ngược lại, nếu có bất kỳ sự khác biệt nào trên bề mặt chứng từ so với quy định của L/C thì người thụ hưởng có thể chịu rủi ro không được thanh toán.
Một khi thỏa thuận thư tín dụng là phương thức thanh toán cho hợp đồng mua bán, người thụ hưởng phải ý thức được tầm quan trọng của việc các chứng từ phải tuân thủ các quy định của L/C và họ phải hiểu rằng hầu hết các tranh chấp hoặc không thanh toán đều xuất phát từ việc các chứng từ không phù hợp. Để tránh nguy cơ không được thanh toán, người thụ hưởng phải lên một danh sách kiểm tra (checklist) để đảm bảo rằng tất cả các quy định của L/C có thể được thực hiện ngay từ khi họ nhận được thông báo L/C lần đầu tiên từ ngân hàng thông báo. Nếu các quy định của L/C không thể thực hiện được thì họ phải yêu cầu tu chỉnh L/C. Ngoài ra, tại thời điểm xuất trình chứng từ cho ngân hàng được chỉ định, người thụ hưởng cũng phải lập thêm một checklist khác để đảm bảo rằng việc xuất trình chứng từ hoàn toàn phù hợp với quy định của L/C.
Trên cơ sở xem xét các điều khoản của UCP 600 và các tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế ISBP 745, tác giả đề xuất một checklist thư tín dụng theo đó người thụ hưởng cần thực hiện để được thanh toán hoặc được chấp nhận thanh toán như sau.
1. Checklist khi người thụ hưởng nhận được L/C từ ngân hàng thông báo:
 Ngày và nơi hết hạn phải thuận tiện cho việc xuất trình chứng từ
 Giá trị và đơn vị tiền tệ của L/C (cũng như dung sai) phải phù hợp với hợp đồng mua bán
 Điều khoản thanh toán phải được phù hợp với quy định trong hợp đồng mua bán. Trong trường hợp L/C được phát hành bởi ngân hàng ít tên tuổi, người thụ hưởng nên yêu cầu có sự xác nhận của một ngân hàng có uy tín hơn. Bằng việc xác nhận thư tín dụng, ngân hàng xác nhận này sẽ bổ sung thêm cam kết của họ đối với việc thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu bộ chứng từ. Như vậy, sự cam kết của thư tín dụng có xác nhận cao hơn, cụ thể là ngoài sự cam kết của ngân hàng phát hành còn có sự cam kết của ngân hàng xác nhận.
 Ngày giao hàng, ngày hết hạn và thời gian xuất trình chứng từ phải được tính toán đầy đủ để người thụ hưởng có thể có đủ thời gian để sắp xếp cho việc chuẩn bị và xuất trình chứng từ.
 Các quy định về giao hàng phải được kiểm tra cẩn thận để đảm bảo rằng các quy định về xếp dỡ hàng hóa, tuyến đường chuyên chở, giao hàng từng phần và chuyển tải có thể thực hiện được.
 Mô tả hàng hóa và dịch vụ phải phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng mua bán.
 Các chứng từ cần xuất trình có thể lập được và có thể xuất trình kịp thời theo quy định về thời gian xuất trình trong L/C
 Việc chia sẻ chi phí liên quan phải tuân theo sự thỏa thuận trước đó giữa người mua và người bán
 Nếu có bất kỳ điều khoản, quy định nào mà người thụ hưởng không thể thực hiện được thì họ phải yêu cầu tu chỉnh L/C ngay lập tức.
2. Checklist khi xuất trình các chứng từ cho ngân hàng được chỉ định
 Điều quan trọng trước tiên đó là L/C phải còn hiệu lực và thời hạn xuất trình chứng từ vẫn còn
 Ngày trên chứng từ vận tải phải cho thấy rằng hàng hóa đã được xếp theo đúng tiến độ giao hàng và chứng từ vận tải phải được phát hành trong thời gian quy định của L/C
 Tên và số bản của các chứng từ cần xuất trình phải đúng theo quy định của L/C và giữa các chứng từ phải có sự phù hợp về thông tin dung tích, khối lượng, đóng gói cũng như ký mã hiệu hàng hóa. Ngoài ra, các chứng từ này phải được xác nhận và/hoặc hợp pháp hóa và/hoặc sửa chữa của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của L/C. Đối với vận đơn, người thụ hưởng phải chú ý cẩn thận để bảo đảm rằng vận đơn được ký bởi đúng người có thẩm quyền và nếu cần thiết thì phải được ký hậu. Trong trường hợp CIF hoặc CIP, các chứng từ bảo hiểm phải mua theo đúng loại bảo hiểm và số tiền bảo hiểm phải đúng với quy định của L/C. Ngoài ra, nếu L/C quy định xuất trình hối phiếu thì trên hối phiếu phải có chữ ký của người thụ hưởng, điều này cũng tương tự như trường hợp hoá đơn thương mại.
Tóm lại, so với một số phương thức thanh toán khác, L/C là một phương thức thanh toán bảo đảm quyền lợi cho người bán hơn. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế của L/C là phương thức thanh toán được sự cam kết từ ngân hàng phát hành, người bán phải xử lý thông tin trên L/C một cách đúng đắn và khôn ngoan. Đó là cơ sở  để bảo đảm rằng họ sẽ được thanh toán.

Hoàng Anh Thư

———–
Tài liệu tham khảo:
UCP 600, ấn bản 2007 và ISBP 745, ấn bản 2013 của Phòng Thương mại quốc tế

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: